Nuôi tôm: vấn đề hay giải pháp?

Tại tỉnh Trà Vinh nằm ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam, các phương pháp nuôi trồng đa canh đang giúp khôi phục rừng ngập mặn. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam là một trong những khu vực có năng suất cao nhất châu Á. Nằm ở cực tây nam của đất nước, mảnh đất màu mỡ này là nơi các dòng chảy sông Mekong đổ ra Biển Đông. Có khoảng 17 triệu người sinh sống trong khu vực này, chiếm một phần tư diện tích sản xuất lúa và đóng góp một nửa sản lượng thủy sản của Việt Nam. Cuộc sống người dân thường phụ thuộc rất nhiều vào mảnh đất nơi họ sinh sống, điều này không chỉ riêng ở Việt Nam - nơi cung cấp một lượng đáng kể gạo và tôm cho thế giới mà trên thế giới cũng vậy.

A shrimp farmer's hut stands near a pond in Tra Vinh Province, Viet Nam

Chỉ trong khoảng hai thập kỉ, tôm đã làm thay đổi mạnh mẽ cảnh quan của đồng bằng sông Cửu Long. Những cánh đồng lúa chuyển đổi từ rừng ngập mặn đã nhường chỗ cho hàng dặm ao nuôi tôm thâm canh. Cảnh quan trở nên hoang vu và trần trụi, và các ao trông như những ổ gà khổng lồ dưới ánh mặt trời buổi chiều. Tại nhiều nơi hầu như không còn nhìn thấy chút rừng ngập mặn nào.

Mặc dù vậy, không còn nghi ngờ gì về việc bùng nổ nuôi tôm đã mang đến sự thịnh vượng. Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu tôm hàng đầu trên thế giới. Và những đầm, ao này, nơi từng được coi là khu vực rừng ngập mặn không sinh lợi, đã giúp người nông dân xây được các tòa nhà và mua xe hơi mới. Nhưng các chuyên gia lo ngại rằng sự thịnh vượng này không chỉ ngắn ngủi mà còn đi kèm với cái giá khá đắt.

Đồng bằng sông Cửu Long là một ví dụ điển hình khi rừng ngập mặn đã biến mất một cách nhanh chóng khỏi các bờ biển đang ngày càng dễ bị tổn thương của thế giới. Năm 2007, Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc ước tính rằng tại Việt Nam, các khu rừng ngập mặn đã giảm từ 400.000 ha năm 1950 xuống còn 157.000 ha năm 2005. Một nghiên cứu tại Trà Vinh, một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long và một nơi sản xuất tôm lớn, ước tính tỷ lệ phá hủy rừng ngập mặn là 13.1% mỗi năm trong giai đoạn 1995 - 2001, tăng 0.2% so với giai đoạn 1965-1995. Nguyên nhân của việc gia tăng mạnh mẽ sự phá rừng được cho là do nuôi tôm.

Rừng ngập mặn không chỉ là nơi cung cấp lương thực và bãi đẻ có giá trị đối với sinh vật biển; chúng còn bảo vệ bờ biển trước bão, lũ và làm chậm xói lở bờ biển. Rừng ngập mặn rất cần thiết để giúp đường bờ biển và các cộng đồng tại đó thích ứng tốt hơn với tác động của biến đổi khí hậu. Hai nghiên cứu riêng biệt do Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á đã cảnh báo rằng đồng bằng sông Cửu Long là một trong những khu vực trên thế giới dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu. Việc mất đi hơn nửa diện tích rừng ngập mặn sẽ không đem lại lợi ích cho những người dân sống tại khu vực này của Đông Nam Á.

Đó là trừ khi mọi thứ thay đổi. Sáng kiến Rừng ngập mặn cho Tương lai (MFF), tin rằng nuôi tôm, tác nhân phá hủy rừng ngập mặn của đồng bằng sông Cửu Long, có thể khôi phục những vùng rừng ngập mặn này. Tại Việt Nam, dự án đang hợp tác với chính phủ, cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân thực hiện thí điểm thành công các mô hình nuôi tôm kết hợp với rừng ngập mặn.

Mô hình này đơn giản nhưng hiệu quả. Người nuôi tôm được ưu đãi để duy trì hoặc đảm bảo ít nhất 40% diện tích trang trại của họ được bao phủ bởi rừng ngập mặn. Phương pháp canh tác này, được gọi là nuôi tôm quảng canh, hoặc tôm rừng tích hợp, là đối lập với nuôi tôm thâm canh.

Nuôi tôm thâm canh là một trong những hình thức nuôi trồng thủy sản không bền vững nhất. Ngoài việc phá hủy rừng ngập mặn, hệ thống này dựa chủ yếu vào thức ăn công nghiệp bột cá và nước thải từ các trại nuôi thâm canh, thường chứa đầy các chất thải và vi khuẩn (và thường xuyên có cả thuốc kháng sinh để điều trị bệnh cho tôm được nuôi trong các trang trại đông đúc và chật chội), gây ô nhiễm cho sông ngòi khu vực lân cận.

Phương pháp quảng canh nuôi tôm trong môi trường sống tự nhiên của chúng - trong rừng ngập mặn và cùng với các đối tượng nuôi khác như nghêu và cua. Vì tôm được cho ăn và sinh sản tự nhiên nên không dễ mắc bệnh và mầm bệnh. Ví dụ tại một số ao nuôi đang được hỗ trợ bởi MFF, tôm được nuôi bên cạnh ao nuôi vọp, có tác dụng như các bộ lọc tự nhiên để làm sạch nước chảy vào và thải ra từ sông.

Bên cạnh là sự lựa chọn tối ưu về mặt sinh thái, nuôi tôm quảng canh cũng là một lựa chọn kinh doanh thông minh. Nuôi tôm thâm canh là một sự đầu tư rủi ro lớn. Người nông dân mất nhiều chi phí đầu vào (thức ăn công nghiệp, thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh), và phải đối mặt với nguy cơ tôm mắc bệnh cao. Chỉ một con tôm không khỏe mạnh (do các mầm bệnh và vi khuẩn sinh sôi nảy nở trong ao nuôi tôm thâm canh) có thể mất trắng sản lượng thu hoạch trong hai ngày.

Chính phủ Việt Nam ủng hộ, và những nông dân bị phá sản có thể được cung cấp cây đước giống để họ có thể chuyển sang nuôi quảng canh. Quá trình để chuyển đổi đồng loạt từ nuôi tôm công nghiệp sang đa canh nuôi tôm rừng ngập mặn sẽ cần thời gian. Tuy nhiên, thời gian có thể không còn xa xỉ nữa khi mà dự báo các tác động của biến đổi khí hậu đang ngày càng tăng.
Một sổ huyện ven biển đã nhìn ra được ảnh hưởng của việc rừng ngập mặn biến mất. Ví dụ tại tỉnh Trà Vinh, chính phủ đang tập trung mở rộng đê Hiệp Thanh phía bắc tại huyện Duyên Hải. Huyện này đã mất gần 800 mét bờ biển kể từ năm 2000. Tuy nhiên mặc dù hàng rào bê tông có thể ngăn nước dâng do bão, sự bảo vệ này vẫn rất mỏng manh và là một giải pháp rất tốn kém. Xói lở bờ biển dự kiến sẽ trở nên tồi tệ hơn và với việc không có một khu rừng ngập mặn che chắn, đường bờ biển vẫn bị đe dọa nghiêm trọng.

Trong khi đó, tại những nơi rừng ngập mặn đã được trồng, cơ sở hạ tầng ven biển tự nhiên này góp phần giảm rủi ro thiên tai và nâng cao sinh kế cộng đồng. Việc trồng 9.462 ha rừng (trong đó 8.961 ha là rừng ngập mặn) ở 166 xã của miền bắc Việt Nam , khu vực có nguy cơ cao về thiên tai, đã giảm thiệt hại do bão gây ra đối với hệ thống đê ước tính 80,000-295,000 USD nhưng tổng số tiền tiết kiệm do tránh được các rủi ro còn cao hơn, ước tính khoảng 15 triệu USD. Rừng ngập mặn cũng cung cấp thêm thu nhập cho các cộng đồng.

Việt Nam không phải là trường hợp duy nhất mà các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á và ở nhiều nơi trên thế giới cũng đang gặp những khó khăn tương tự. Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) ước tính rằng nếu không có hành động nào, vào năm 2050, khu vực Đông Nam Á sẽ có khả năng mất đi 35% diện tích rừng ngập mặn của khu vực trong năm 2000. Sự biến mất của các vùng rừng ngập mặn sẽ đi kèm các tác động tiêu cực về kinh tế xã hội, làm mất đi giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái, được ước tính vượt quá hơn 2 tỷ USD một năm trong giai đoạn 2000-2050.

Thực tế là ngành nuôi tôm đi kèm một cái giá khá cao. Nhưng rõ ràng là cần phải thay đổi, hướng đến những cách làm bền vững hơn tại các vùng ven biển nơi mà các cộng đồng và các hệ sinh thái sẽ phải chịu gánh nặng của tác động biến đổi khí hậu. Tất cả các ngành cần phải làm việc hướng tới sự thay đổi này: không chỉ người nuôi tôm và chính phủ, mà các công ty thủy sản và người tiêu dùng cũng đóng một vai trò quan trọng hỗ trợ nuôi trồng thủy sản bền vững hơn.

Vẫn còn hy vọng cho đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Rừng ngập mặn - nơi hiện nay là các ao nuôi tôm công nghiệp - có thể trở lại đầy sức sống một lần nữa, không chỉ mang lại lợi nhuận mà còn cả cuộc sống bình yên hơn cho cộng đồng.

 

Work area: 
Marine and Coastal Ecosystems
Climate Change
Location: 
Viet Nam
SEA Group
Myanmar
Project and Initiatives: 
Mangroves for the Future 
Go to top