Tại sao khu vực lại cần Công ước về Nước của Liên Hợp Quốc

Ngày 4/6, tại một hội thảo quốc tế ở Bến Tre, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã có bài phát biểu nhấn mạnh các nguy cơ tranh chấp ngày càng cao về nguồn nước và yêu cầu cần có sự hợp tác quốc tế mạnh mẽ hơn để tránh các xung đột có thể xảy ra. Phó thủ tướng yêu cầu các quốc gia cần “phát triển tư duy mới” để đạt được “hợp tác thiết thực trong quản lý bền vững và hiệu quả tài nguyên nước” và trên hết là “đưa các thỏa thuận và cam kết vào các hành động cụ thể”.

New day in Mekong Delta

Trong vài năm gần đây đã có rất nhiều cuộc gặp gỡ tiếp xúc giữa các quốc gia Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, tuy nhiên chưa có thỏa thuận nào được tất cả bốn quốc gia đồng thuận về việc liệu có nên xây dựng các đập thủy điện có thể tạo ra các tác động không thể đảo ngược lên con người và an ninh kinh tế.

Năm 2013, Chính phủ Campuchia công bố một nghiên cứu cho thấy nếu tất cả các đập dòng chính Mê Công được xây dựng, lượng cá nước ngọt có thể khai thác trên đầu người sẽ giảm 50% vào năm 2030 tại một quốc gia mà 70% lượng protein tiêu thụ phụ thuộc vào đánh bắt cá. Và do các đập chặn sự lưu chuyển của trầm tích, Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi cung cấp 90% nông sản và 70% thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sẽ bắt đầu bị chìm xuống do một quá trình địa chất đang bị đẩy mạnh lên do nước biển dâng.

Một lý do của việc nhiều trao đổi đối thoại nhưng chỉ dẫn đến rất ít hành động là thiếu một khung pháp lý đủ mạnh làm cơ sở cho các đàm phán về nước. Thỏa thuận Mê Công theo đó thành lập Ủy hội Sông Mê Công đã được ký kết vào năm 1995. Theo thiết kế nội dung, thỏa thuận này cho phép bốn quốc gia thành viên quyền tự quyết tương đối lớn về việc sử dụng nước sông Mê Công trên lãnh thổ của mình. Vào thời điểm 1995, thỏa thuận đến mức độ này là phù hợp, tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, nó hạn chế tác dụng của Thỏa thuận trong việc đáp ứng với các thách thức mới trong đó có hợp tác khu vực về phát triển thủy điện.

Thỏa thuận Mê Công có một vài điểm yếu. Thứ nhất là phạm vi địa lý. Do thỏa thuận Mê Công chỉ điều chỉnh dòng sông Mê Công nên nó khó sử dụng nó để giải quyết vấn đề xây dựng đập trên các chi lưu. Một nghiên cứu của Đại học Princeton vào năm 2012 đã kết luận: “việc xây dựng xong 78 đập trên các chi lưu tạo ra những tác động cực kỳ nghiêm trọng lên sản lượng cá và tính đa dạng sinh học. Các kết quả nghiên cứu cho thấy cần đánh giá lại một số đập đang được lên kế hoạch xây dựng, và cần có một thỏa thuận cấp khu vực về phát triển trên các dòng nhánh ở Lưu vực sông Mê Công”. Chỉ mình đập Hạ Sê San 2 hiện đang được xây dựng ở Campuchia cũng có thể làm giảm đến 9,3% sinh khối cá của toàn lưu vực.

Việc thiếu một cơ chế giải quyết tranh chấp có ràng buộc pháp lý là một điểm yếu khác. Thỏa thuận Mê Công có đưa ra một cơ chế giải quyết tranh chấp tuy nhiên nó rắc rối, khó hiểu, và quan trọng nhất là nó không mang tính ràng buộc. Điều này có nghĩa là các quốc gia không có quyền phủ quyết, hay thập chí chỉ là yêu cầu trì hoãn sau giai đoạn sáu tháng đầu tiên, đối với một dự án mà họ thấy đe dọa những lợi ích sống còn của mình. Đối với Việt Nam và Campuchia, hai quốc gia hạ nguồn, điều này tạo ra những mối quan ngại ngày càng lớn.

Những điểm yếu này là lý do để Việt Nam phê chuẩn Công ước về Nước của LHQ (UNWC) vào tháng 05/2014 và là quốc gia thứ 35 phê chuẩn Công ước qua đó đưa công ước bắt đầu có hiệu lực từ tháng 08/2014. Công ước này đã được thông qua với số phiếu áp đảo (chỉ có ba quốc gia phản đối) tại Đại Hội đồng LHQ vào năm 1997 nhưng cần đến 17 năm mới bắt đầu đi vào hiệu lực do nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do Công ước này không có một Ban Thư ký.

UNWC xác định các thực hành tốt trong các luật nước quốc tế và đưa ra một khung pháp lý tổng hợp và linh hoạt nhất có thể để sử dụng làm cơ sở cho rất nhiều thỏa thuận về các dòng sông quốc tế tại châu Âu và châu Á. Không như Thỏa thuận Mê Công, Công ước bao gồm một cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc theo đó tranh chấp ở mức không dàn xếp được sẽ phải chuyển lên Tòa án Công lý Quốc tế tại Hague. Như vậy, UNWC đưa ra khung pháp lý rõ ràng và, thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp, nó cải thiện an ninh và niềm tin trong khu vực.

Thủy điện là một phần quan trọng trong kịch bản năng lượng của bất cứ khu vực nào. UNWC không chống lại việc xây dựng đập: nó đề cập đến “không gây hại nghiêm trọng” chứ không phải là “không gây hại”. Vấn đề ở đây không phải là “đập” hay “không đập” mà là xây dựng đập như thế nào để tối đa hóa việc phát điện trong khi giảm thiểu các tác động lện sản lượng thủy sản và an ninh lương thực. Các số liệu và thông tin cần thiết cho các phân tích này ngày càng nhiều nhưng hiện không có các khuôn khổ pháp lý và thể chế giúp cho việc đưa ra các quyết định vì lợi ích của tất cả các quốc gia ven sông.

UNWC dựa trên lập luận là hợp tác về nước mang lại lợi ích chung và có thể giúp mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực khác. Khi các nền kinh tế của khu vực ngày càng trở nên kết nối, hợp tác về nước không chỉ quan trọng đối với lợi ích riêng của từng quốc gia mà còn là cơ sở để phát triển các hợp tác khu vực rộng lớn hơn.

Vào tháng 4/2015, trong đợt tập huấn do Trung tâm Luật Môi trường của IUCN (ELC) tổ chức cho Ủy ban Mê Công Campuchia trong khuôn khổ Dự án Xây dựng Đối thoại và Quản trị các dòng Sông (BRIDGE), điều gây ấn tượng là sự thay đổi về nhận thức. Đầu tiên, các thành viên tham dự tập huấn tỏ ra nghi ngờ về UNWC; thậm chí có người nghĩ là nó sẽ phá hủy Thỏa thuận Mê Công. Nhưng khi bắt đầu hiểu về các nguyên tắc và thủ tục của Công ước, họ đã thấy không có mâu thuẫn nào ở đây, và trên thực tế nó còn là sự bổ sung có ý nghĩa cho Thỏa thuận Mê Công và Campuchia nên phê chuẩn Công ước này.

IUCN sẵn hàng hỗ trợ Campuchia trong việc cân nhắc xem xét xem liệu có nên phê chuẩn UNWC hay không. Và như đề xuất của Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh, IUCN cũng sẽ cố gắng hỗ trợ các hoạt động tương tự với Thái Lan và Myanmar nhằm giúp khu vực có những bước chuyển biến từ lời nói sang hành động.
 

Work area: 
Water
Wetlands
Location: 
Viet Nam
Viet Nam
Go to top