Hội thảo đồng bằng 2011

Đây là hội thảo thứ ba nằm trong loạt hội thảo do IWWI, FAO, Trung tâm Cá Thế giới, IRRI, SEI và Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và môi trường (IMHEN), thuộc Bộ TN&MT tổ chức. Jim Syvitski, Đại học Colorado có báo cáo đề dẫn tại hội thảo. Jim là tác giả của bài báo về các vùng đồng bằng đang bị chìm dần đăng tải trên tạp chí Nature (Thiên nhiên) đã thu hút được nhiều sự chú ý. Trong quá trình phát triển tự nhiên, các đồng bằng đều chìm dần nếu như không có sự bổ sung trầm tích một cách tự nhiên. Công thức dưới đây mô tả mối quan hệ đó: R = A ± E – Cn – a – M
 

Mekong Delta

Trong đó R là mực nước biển dâng tương đối. A là sự dâng cao của đồng bằng do bồi lắng trầm tích và mức độ còn lưu lại tại đồng bằng, E là sự thay đổi về mực nước biển toàn cầu, Cn là độ nén ép tự nhiên, Ca là độ nén ép gia tăng do tác động của con người, và M là sự chìm dần do mức độ bồi lắng trầm tích.

Trong điều kiện tự nhiên, các đồng bằng dâng cao ở mức trung bình 5,5cm/năm: +5,5=10-0.5-2-0-2. Tuy nhiên, trong những điều kiện tạm thời, một số đồng bằng chìm dần với tốc độ 15cm/năm: -15 = 5-3-2-13-2. Nguyên nhân chính của sự chìm dần này là do mức độ bồi đắp bị giảm, do các con đập được xây dựng trên dòng chảy đã giữ lại trầm tích và các đê kè làm lòng sông nâng cao hơn nhưng lại ngăn không cho trao đổi trầm tích ở hai bên bờ sông; và do độ nén ép gia tăng của nền đất do khai thác nước ngầm và ga tự nhiên.

Điều đáng chú ý về các con số này là tác động của A và Cn lớn hơn rất nhiều so với E. Nói một cách khác, tác động mà hiện tượng nóng lên toàn cầu (mà Việt Nam hiện không có khả năng kiểm soát) dẫn đến làm tăng mức nước biển nhỏ hơn nhiều so với mức nước biển dâng tương đối do giảm độ bồi đắp và tăng lượng nước ngầm thoát ra (việc mà Việt Nam đã tiến hành một số biện pháp kiểm soát). Theo tờ Nature, đồng bằng sông Cửu Long là một trong những “Đồng bằng đang gặp nguy hiểm: việc giảm mức độ bồi đắp cộng thêm mức nén ép gia tăng sẽ lấn át yếu tố mực nước biển dâng”. (Đây chính là lý do khiến bài báo này làm sửng sốt nhiều chuyên gia về biến đổi khí hậu).

Jim dự tính rằng với tốc độ chìm dần nhanh chóng của những vùng đồng bằng đông dân cư và quan trọng về kinh tế không sớm thì muộn sẽ dẫn đến một thảm hoạ tại Đồng bằng sông Châu Giang ở miền bắc Trung Quốc, nơi được coi là khu vực trong tình trạng mong manh nhất. Khi được hỏi về khả năng xây dựng hệ thống chắn mực nước biển dâng, Jim cho biết theo kinh nghiệm, ta không thể xây dựng một hệ thống hoàn hảo mà việc theo đuổi một cách mù quáng những điều được cho là chắc chắn là điều chúng ta cần là xem xét lại; tương tự như kết quả thu được tại New Orleans nơi các kỹ sư quân đội Mỹ phải tiêu tốn hàng tỷ đô là đề bảo vệ vùng ven biển.

Jim cũng chỉ ra rằng hạn chế trong khả năng thích ứng linh hoạt của Việt Nam là thiếu chính sách và văn hóa chia sẻ thông tin (giống như Trung Quốc). (bài báo trên Nature hầu hết được dựa trên dữ liệu sẵn có được công bố từ USGS và các nguồn khác). Ví dụ, một trong các diễn giả nói về sự sụt giảm mạnh mực nước sông Hồng tại Hà Nội tính từ năm 2000 và tác động của việc này đối với sản lượng nông nghiệp tại các vùng đất ven sông, nơi bồi đắp cho đồng bằng sông Hồng. Nhưng khi hỏi về những số liệu cụ thể liên quan đến sụt giảm trữ lượng, hay không thể tưới tiêu, những nguyên nhân có thể góp phần làm giảm mực nước sông thì người trình bày lại không thể trả lời vì không được tiếp cận những số liệu liên quan đến việc xả nước ở thượng nguồn.

Một loạt các bài trình bày đề cập đến các giống lúa mới để chống chọi với nhiệt độ tăng và thời gian lũ lụt lâu hơn. Chủ yếu là thâm canh cây lúa làm tăng sản lượng lúa tại đồng bằng sông Cửu Long: từ 16 triệu tấn năm 1985, đến 35 triệu tấn năm 2003, đến 40 triệu tấn năm 2008, và dự kiến 42 triệu tấn năm 2020. Sản lượng lúa tại đồng bằng trung bình 5 tấn/héc-ta/năm. Tôi hỏi việc này liệu có ý nghĩa không khi chúng ta đang cố hết sức để sản xuất thêm nhiều lúa bằng một hệ thống canh tác đã và đang phải trống trọi với những tác động tiêu cực về môi trường và xã hội. Điều này khiến tôi liên tưởng đến hình ảnh nếu bạn là một cái búa (hay nhà nghiên cứu về lúa), mọi thứ đều trông giống như đinh (hay nâng cao sản lượng lúa) .

Sau các bài trình bày, các đại biểu chia làm hai nhóm. Tôi tham dự nhóm thảo luận về thích ứng với biển đổi khí hậu ven biển. Căn cứ vào nội dung thảo luận, các đại biểu quyết định tập trung vào những vấn đề chiến lược (tập trung vào đồng bằng sông Cửu Long). Nhóm thảo luận đã đưa ra những gợi ý sau:

1. Tập trung vào con người không phải khu vực: đầu tư vào y tế, giáo dục… đem lại cho con người những cơ hội sống tốt hơn (tăng cường khả năng chống chịu)

2. Giảm các biện pháp công trình/phục hồi chế độ thủy văn tự nhiên: phá đê kè, tái liên kết các dòng sông và các vùng đồng lũ… để cải thiện chất lượng nước và giảm mức độ tàn khốc của lụt lụt (giảm mức độ dễ bị tác động)

3. Cân nhắc mối liên hệ giữa thượng nguồn và hạ nguồn: quản lý lưu vực như một hệ thống thủy văn, giải quyết những tác động của đập (giảm mức độ dễ bị tác động)

4. Hiểu biết về kinh tế chính trị: rất nhiều tiền của đã đầu tư vào đê điều và có rất nhiều động lực để duy trì xu thế này; chúng ta cần xây dựng một liên minh tạo nên sự thay đổi (giảm mức độ dễ bị tác động)

5. Thiết lập một hệ thống giải quyết các xung đột: hậu quả biến đổi khí hậu sẽ là kẻ thắng và người thua; một số vùng đất sẽ bị ngập và đôi khi sẽ không thể có giải pháp đôi bên cùng có lợi (giảm mức độ dễ bị tác động).

6. Tăng cường hệ thống thông tin và dữ liệu: biến đổi khí hậu không phải là sóng thần; không cần phải vội vã đưa ngay những giải pháp tốn kém (và rủi ro), nhưng muốn thích ứng một cách thông minh thì cần phải có số liệu tốt.
 

Work area: 
Water
Location: 
Asia
Asia
Project and Initiatives: 
Mekong Dialogues
Go to top