Tác động tích cực của đầu tư nước ngoài đến vấn đề môi trường ở Việt Nam

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giúp chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam trong vòng 15 năm qua. Các công ty nước ngoài đã đem đến công nghệ với năng suất hiệu quả hơn, sạch hơn, và nơi làm việc cũng an toàn hơn, việc quản lý cũng đạt các tiêu chuẩn quốc tế và gắn kết với chuỗi cung ứng toàn cầu. Trên thực tế, sự tham gia của các công ty nước ngoài và xuất khẩu tăng mạnh thực sự đã trở thành nền tảng để thực hiện mục tiêu tốc độ tăng trưởng cao và xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam.

State-owned cement company in Kien Giang

Vậy tại sao các công ty nước ngoài lại kiên định tuân theo những tiêu chuẩn xã hội và môi trường cao? Tại sao họ lại không thực hiện “cuộc chạy đua tới đáy” để tận dụng nguồn lao động giá rẻ và các quy định môi trường lỏng lẻo mà một số nhà phê bình vẫn lo lắng? Một vài câu trả lời đã được rút ra từ cuộc hội thảo do Holcim, công ty xi- măng lớn thứ 2 thế giới tổ chức và tôi đã có vinh dự tham gia. Mục đích của cuộc hội thảo này là để cập nhật cho các doanh nghiệp tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương những vấn đề liên quan đến môi trường. Nó gồm có các cuộc thảo luận giữa các nhà máy khai thác và sản xuất xi- măng của Holcim tại Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Philippines, Thái Lan. Cuộc hội thảo này được tổ chức tại Băng- kok vào cuối tháng 8 năm 2010.

Tại cuộc hội thảo này, các nhà lãnh đạo cấp cao của Holcim đã thể hiện rất rõ quan điểm của họ là muốn công ty này vẫn tiếp tục đứng trong bảng danh sách Các công ty thế giới đạt Chỉ số Bền vững Down Jones (DJSI). Ra đời vào năm 1999, DJSI là một chỉ số của thị trường chứng khoán dành cho các các công ty tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn về xã hội và môi trường. Cũng như Holcim, rất nhiều công ty lớn nhất thế giới như General Electric, Intel và Microsoft được đánh giá hàng năm và hàng năm có thêm nhiều công ty được đưa vào cũng như loại khỏi danh sách (BP đã bị loại khỏi danh sách DJSI sau sự cố tràn dầu khổng lồ tại Vịnh Mexico tháng 4, năm 2010).

Các công ty rất muốn đạt được chỉ số DJSI vì thực hiện tốt các quy định về xã hội và môi trường có nghĩa là giảm rủi ro và chi phí kinh doanh, bao gồm chi phí vay mượn. Thực hiện tốt các quy định này cũng góp phần giúp thương hiệu của họ được người tiêu dùng thừa nhận và trung thành và giảm khả những xung đột với Chính phủ và cộng đồng xung quanh, do đó tăng khả năng doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động. Cuối cùng, nó giúp thu hút, động viên và duy trì thành tích hoạt động tốt của các nhân viên, từ đó sẽ tăng năng suất hoạt động của doanh nghiệp. Và đó chính là những lý do kinh tế giải thích tại sao các công ty như Holcim luôn cố gắng để được giữ lại trong danh sách DJSI.

Holcim hướng tới mục tiêu không ngừng cải thiện việc thực hiện các quy định về môi trường của mình thông qua một hệ thống các chỉ thị hướng dẫn, kiểm soát và báo cáo. Holcim cũng đang tiến hành lắp đặt các máy cảm biến ở tất cả các nhà máy sản xuất xi- măng của họ trên khắp thế giới để liên tục kiểm soát lương NOx, Sox, bụi và các chất gây ô nhiễm khác. Các dữ liệu về tình hình thực hiện sẽ được đăng trên website của Holcim và được xuất bản trong báo cáo năm cứ 2 năm một lần của Holcim: (http://www.holcim.com/sustainable).

Ngoài việc phát thải chất thải, các nhà máy xi- măng còn trực tiếp gây ra các tác động vật lý do việc khai thác và xây dựng nhà máy. Vì thế Holcim đã và đang làm việc với IUCN để phát triển hệ thống Quản lý Đa dạng Sinh học (BMS), quản lý vòng đời của toàn bộ nhà máy và chỉ ra các nguy cơ cũng như cơ hội đối với đa dạng sinh học tại các địa điểm khai thác. Công việc này bao gồm việc chuẩn bị cho kế hoạch Hành động Đa dạng Sinh học (BAP) tại những nơi cần thiết. Các văn bản hướng dẫn việc triển khai BMS và BAP đã được một nhóm các chuyên gia độc lập thực hiện.

Tuy nhiên sẽ là chưa đủ nếu chỉ có các công ty quốc tế tham gia vào việc thực hiện tốt các quy định môi trường. Các công ty nhà nước, vốn nổi tiếng với những nhà điều hành kém hiệu quả và không tuân theo các quy định về môi trường, đặc biệt là về quản lý nước thải, cũng cần phải tham gia vào quá trình này. Họ không có khuynh hướng sẽ đầu tư vào kiểm soát ô nhiễm. Thực tế, những công ty gây ô nhiễm nhiều nhất là những doanh nghiệp do nhà nước sở hữu. Điều nay đã gây cản trở cho việc cải cách các doanh nghiệp này bởi vì nhà nước phải đương đầu với xung đột lợi ích giữa hai vai trò: một là chủ sở hữu và một là người ban hành chính sách. Sự xung đột này đặc biệt rõ nét hơn ở cấp tỉnh, nơi mà những nhà lãnh đạo chính trị, những người sẽ đề ra các mục tiêu kinh tế, chỉ miễn cưỡng thực hiện các quy định môi trường vì chúng có thể tăng chi phí đầu vào hoặc tỷ lệ thất nghiệp.

Chính bởi sự xung đột lợi ích này nên các công ty quốc tế và các doanh nghiệp nhà nước không thể cùng tham gia một sân chơi công bằng. Đây là một vấn đề lớn đối với các công ty quốc tế vì họ đang phải cạnh tranh với các công ty có thể cắt giảm chi phí bằng cách không đầu tư ( hoặc nhiều khi có trường hợp có lặp đặt nhưng không vận hành) các công nghệ hiện đại. Điều này cũng gây ra một sự mất mát lớn cho Việt Nam vì đáng lẽ ra Việt Nam có thể tận dụng được các công ty nước ngoài để tạo động lực cũng như có các quy định khuyến khích hoạt động hiệu quả và đổi mới nhằm cải thiện việc thực hiện các quy định môi trường của khu vực nhà nước.

Vậy chính phủ sẽ phải làm gì để tạo ra một sân chơi công bằng hơn? Nhiệm vụ quan trọng nhất là nâng cao năng lực của phòng Tài nguyên Môi trường, bộ phận sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các quy định về môi trường tại cấp tỉnh và trao cho họ những quyền lực chính trị cần thiết để họ thực hiện công việc của mình. Điều này sẽ giải quyết được thực trạng các Phòng Tài nguyên và môi trường phải báo cáo cho Ủy ban Nhân dân tỉnh, những người ưu tiên phát triển kinh tế hơn là bảo vệ môi trường. Nói chung, các quy định và luật về môi trường ở Việt Nam đã tương đối đầy đủ. Nếu Việt Nam mong muốn tận dụng được lợi thế của “cuộc chạy đua tới đỉnh” mà các công ty quốc tế đang khơi dậy, thì Việt Nam cần phải tập trung vào việc thực hiện các luật và quy định về môi trường.
 

Work area: 
Business
Business
Cement and Aggregates
Go to top