Tổng kết dự án MAM: kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm

Trong 3 năm qua, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) đã triển khai dự án Phục hồi rừng ngập mặn dựa vào nuôi tôm bền vững và giảm phát thải (gọi tắt là MAM) tại tỉnh Cà Mau. Dự án được tài trợ bởi Bộ Môi trường, Tài nguyên thiên nhiên, Xây dựng và An toàn hạt nhân Cộng Hòa Liên Bang Đức (BMUB) nhằm mục đích hỗ trợ bảo tồn rừng ngập mặn (RNM) tại Cà Mau thông qua chứng nhận tôm sinh thái, mang lại giá trị tăng thêm cho con tôm đổi lại việc duy trì ít nhất 50% diện tích RNM.

Organic shrimps collected by farmers in Nhung Mien, Ca Mau Province

Mô hình nuôi tôm dưới tán rừng, hay đa canh RNM, với sản phẩm là các loài thủy sản như tôm, cá, cua, hào, có sức chống chịu tốt với dịch bệnh do thường xuyên được trao đổi nước với thủy triều, vừa hấp dẫn về mặt kinh tế, lại có tiềm năng trở thành một mắt xích quan trọng trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu.

Ngày 22 tháng 2 vừa qua, IUCN và SNV đã tổ chức hội thảo tổng kết dự án với sự tham gia của ơn 60 đại biểu đến từ các tỉnh Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các trường đại học và trung tâm nghiên cứu, cùng với người dân nuôi tôm và đại biểu từ Bộ Tài nguyên Biển và vùng bờ Vương quốc Thái Lan.

Mục tiêu chính của dự án là cải thiện chất lượng và diện tích RNM tại vùng dự án – Ban quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên. Vậy mục tiêu này đã thành công hay chưa? Để trả lời câu hỏi này, nghiên cứu phân tích do Viện Công nghệ Vũ trụ - Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam thực hiện, sử dụng ảnh vệ tinh SPOT, đã cho thấy tỷ lệ diện tích phủ rừng tăng từ 39% năm 2013 lên 44% năm 2015. Phần lớn diện tích này là các vùng RNM non, thưa đã trở thành RNM trưởng thành, dày, kết quả của việc bảo vệ hiệu quả hơn.

Một phần diện tích tăng thêm do trồng lại rừng. Với 400 hộ dân đã tham gia dự án nhưng tỷ lệ rừng chỉ đạt gần mức tối thiểu là 40%, dự án đã đồng tài trợ trồng mới 80Ha rừng đước, giúp các hộ này đạt mức 40%. Sau đó các hộ này được ký hợp đồng với BQL Nhưng Miên, với điều kiện họ nâng tỷ lệ rừng lên 50% trong 5 năm.

Đã có dấu hiệu trong sự thay đổi nhận thức, một người dân nuôi tôm tâm sự, trước đây RNM bị coi như “kẻ thù”, nhưng đến nay giá trị của nó đối với hệ thống canh tác bền vững đã được người dân hiểu hơn. Thay đổi nhận thức là điều rất khó vì trình độ giáo dục thấp của người dân: chỉ 20% người dân tham gia dự án đã từng học trung học và rất nhiều người cao tuổi mù chữ. Điều này đòi hỏi đầu tư rất lớn vào các đợt tập huấn, tái tập huấn.

Sự tham gia của doanh nghiệp trong chuỗi tôm sinh thái đóng vai trò quan trọng đảm bảo tính bền vững của dự án. Trong thời gian qua, IUCN và SNV đã hợp tác chặt chẽ với Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, công ty xuất khẩu tôm lớn nhất tại Việt Nam. Minh Phú đã ký hợp đồng với 1,150 hộ dân trên diện tích 4,700 Ha, cam kết mua tôm với giá cao hơn khi hộ dân đạt được chứng nhận Naturland.

Tuy nhiên, việc trả giá cao hơn đã từng là đề tài tranh luận, và các hợp đồng đã được đàm phán lại tại hội thảo giữa kỳ tháng 2 năm 2015. Theo các hợp đồng này, chính sách giá tôm đã được sự ủng hộ của 6 công ty chế biến tôm tại Cà Mau, chính quyền địa phương và người dân. Mỗi kg tôm chứng nhận được mua với giá cao hơn 3,000VND ($0.13), đồng thời người dân được nhận thêm 500,000VND ($22)/năm cho mỗi Ha diện tích rừng trong ao nuôi. Điều này cho thấy mối liên hệ trực tiếp giữa diện tích RNM và số tiền được chi trả. Tổng cộng, giá trị tăng thêm này đạt 2.5% so với 10% của thỏa thuận ban đầu.

Cà Mau có tổng cộng hơn 100,000Ha rừng ngập mặn, khoảng 2/3 diện tích RNM toàn Việt Nam. Để hỗ trợ nhân rộng dự án, SNV đã tư vấn cho chính quyền tỉnh đàn phán với các công ty thủy sản ban hành Quyết định 111/UBND, quy định tiêu chuẩn cho các dự án tôm sinh thái trên toàn tỉnh.

Quyết định này, được ban hành bởi Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau, đã công nhận người dân làm tôm dưới tán rừng là “người bán” các sản phẩm và dịch vụ sinh thái bắt nguồn từ rừng được quản lý tốt. Khách hàng của tôm sinh thái, hầu hết tại Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc là những “người mua”. Những đối tượng này đã hình thành nên hệ thống Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) Quốc tế. Cách tiếp cận chi trả này không thông qua một tổ chức được điều hành bởi chính phủ, đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận, là một phần của chính sách quốc gia về Chi trả Dịch vụ Môi trường rừng, sẽ được ban hành vào cuối năm 2016.

Tổng giám đốc tập đoàn Minh Phú, ông Lê Văn Quang đã đề cập đến 2 điểm chính. Thứ nhất là nâng cao năng suất, hiện tại đang là 150kg/ha/năm. Ông Quang đề xuất nâng năng suất lên 500kg là khả thi, tuy vậy người dân cho rằng 250kg là năng suất tối đa có thể đạt được. Để cải thiện năng suất, SNV đã xuất bản cuốn “Sổ tay nuôi tôm sinh thái cho mô hình tôm rừng Cà Mau”, đề cập đến hầu hết các mặt của việc nuôi tôm, từ chăm sóc ao nuôi đến lựa chọn và “gièo” tôm giống. Hiện tại, người dân vẫn thả khoảng hơn 20 tôm giống/m2 diện tích trong khi mật độ tối ưu là 8-14 con/m2. Tuy vậy để có năng suất tối, người dân phải mua con giống chất lượng cao, điều mà họ vẫn ngần ngại.

Hiện nay không có cơ sở sản xuất tôm giống sinh thái nào tại Đồng Bằng Sông Cửa Long, Minh Phú đã hỗ trợ dự án bằng việc vận chuyển bằng đường bộ con giống của họ từ trại Ninh Thuận, bán với giá thấp hơn giá thành của họ. Với giá 70VND/con, con giống của Minh Phú có giá cao hơn so với các trại giống địa phương, nhưng có tỷ lệ sống sót cao hơn rất nhiều. Việc tăng sản lượng bằng con giống chất lượng cao cùng kỹ thuật nuôi gieo đúng cách vô cùng quan trọng, vì tăng sản lượng dù ít cũng sẽ đem lại thu nhập cao hơn so với tăng giá bán.

Điểm thứ hai ông Quang đề cập đến là hiệu quả của chứng chỉ sinh thái Naturland. Minh Phú đang gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển chi phí tăng thêm của tôm sinh thái cho người mua ở các thị trường xuất khẩu chính. Năm 2015, lợi nhuận của công ty đã giảm rõ rệt trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường Quốc tế. Để đáp ứng tình hình, Minh Phú đã phát triển thương hiệu “Tôm rừng ngập mặn” (Mangrove shrimp) của chính mình, nhằm vào thị trường Nhật Bản. Nhãn hiệu này củng cố hình ảnh của Minh Phú là một công ty uy tín mà khách hàng nước ngoài có thể tin cậy. Tuy nhãn hiệu này không được công nhận tại tất cả các thị trường, nó đã mượn các tiêu chí của chứng chỉ Naturland và nới lỏng một số điều kiện về cắt mắt tôm giống và con giống sinh thái.

Việc hướng tới thị trường gồm nhiều chứng chỉ sinh thái khác nhau là hoàn toàn khả thi, bao gồm cả chứng chỉ Quốc tế và chứng chỉ của cơ sở sản xuất, tùy vào nhu cầu của từng thị trường. Đối với tiêu chí bảo tồn RNM, điều cốt yếu là đảm bảo sự giám sát độc lập tuân thủ tỷ lệ rừng tối thiểu 50%. Một nghiên cứu của CIFOR năm 2013 đã xác định việc thiếu tuân thủ với các tiêu chí môi trường gần như là mắt xích yếu nhất.

SNV đang làm việc cùng BMUB và các đối tác khác để chuẩn bị cho giai đoạn sau của dự án, nhân rộng mô hình tôm rừng tích hợp ra các tỉnh khác tại đồng bằng sông Cửu Long.

Ông Quang đã đưa ra cam kết việc mở rộng vùng tôm sinh thái đến Bến Tre và Trà Vinh, một phần của sáng kiến liên tỉnh nhằm xây dựng vùng bờ biển sinh thái với tính đa dạng sinh học cao, đem lại lợi ích kinh tế và thích ứng với biến đổi khí hậu.


 

Work area: 
Biodiversity
Business
Marine and Coastal Ecosystems
Location: 
Viet Nam
Viet Nam
Viet Nam
Go to top