Rừng ngập mặn và Thị trường, một nửa chặng đường.

Tháng Tư năm 2015, IUCN phối hợp cùng SNV tổ chức hội thảo sơ kết giữa kỳ dự án Bảo tồn rừng ngập mặn thông qua nuôi tôm bền vững và giảm phát thải (gọi tắt là MAM) tại thành phố Hồ Chí Minh. Được tài trợ bởi BMUB, dự án đang hỗ trợ công tác bảo tồn Rừng ngập mặn (RNM) bằng việc giúp người dân nuôi tôm đạt được chứng chỉ sinh thái (chứng chỉ hữu cơ) Naturland, với ít nhất 50% diện tích đầm tôm được che phủ bởi RNM, trên vùng nuôi tôm kết hợp trồng rừng ngập mặn (tôm rừng) tại huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Processing shrimps for export in Minh Phu Company

Với chứng chỉ Naturland, người dân sẽ được tập đoàn thủy sản Minh Phú cam kết bao tiêu sản phẩm với giá cao hơn giá thị trường. Minh Phú là một trong những công ty xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới và là đối tác của dự án.

Vùng tập trung của dự án là Ban quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên (Nhung Mien FMU) có tỷ lệ che phủ rừng trung bình trên toàn phần là 40%. Dự án đang hỗ trợ những hộ có tỷ lệ rừng gần 40% tái trồng rừng, để họ có thể tham gia chứng nhận với cam kết sẽ đạt tỷ lệ rừng 50% trong 5 năm.

Trong năm 2014, dự án đã giúp trồng mới 40 hecta RNM, giúp 200 hộ dân đạt tỷ lệ che phủ 40%. 740 hộ đã được chứng nhận trong năm này. Với 50 hecta trồng mới trong năm 2015, dự án hi vọng sẽ giúp 400 hộ nữa đạt chứng nhận vào cuối năm.

Một số vấn đề chính từ hội thảo là khả năng tăng năng suất tôm rừng bằng việc chọn con giống tốt hơn và nuôi dưỡng con giống trước khi thả vào đầm nuôi (gièo giống); các quy định chặt chẽ hơn của EU làm cho tiêu chuẩn Naturland càng thêm khó khăn; và liệu việc mua tôm với giá cao của Minh Phú có bền vững hay không?.

Dự án đã phối hợp với Viện nghiên cứu thủy sản 2 tại Cà Mau thực hiện 1 nghiên cứu về mật độ thả giống cụ thể như tổng số lượng giống được nuôi trên mỗi m2 một năm. Nghiên cứu được thực hiện trên 18 hộ dân với 6 công thức thả giống để đánh giá năng suất vả tỷ lệ sống.

Mật độ thả giống truyền thống trung bình khoảng 23 con/ m2/ năm, năng suất 156 kg/ hectar/ năm với tỷ lệ sống của con giống rất thấp, chỉ đạt 2%. Theo quy định của Naturland, mật độ này không được vượt quá 20 con/m2/ năm nên việc tăng tỷ lệ sống của con giống là điểm mấu chốt để tăng năng suất tôm sinh thái. Kết quả ban đầu chỉ ra rằng mật độ thả giống tối ưu là 8-10 con/m2 và việc sử dụng giống có chất lượng cao hơn (giá thành cao hơn) sẽ có tỷ lệ sống cao hơn và nâng cao năng suất. Kết quả chính của nghiên cứu này sẽ được sử dụng như tài liệu kỹ thuật cho các hộ nuôi tôm quy mô nhỏ đạt được sản lượng cao hơn trong khi vẫn đáp ứng được các yêu cầu của Naturland.

Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng con giống, dự án đã phối hợp cùng các ban ngành địa phương xác định 8 trại giống có uy tín nhất trong khu vực. Các trại này đảm bảo cung cấp giống chất lượng cao với giá 50 đồng/ con giống, tuy cao hơn giá giống thường (30 đồng) nhưng vẫn thấp hơn giá giống từ trại giống Minh Phú ở Ninh Thuận (85 đồng). Thách thức hiện nay là vận động bà con sử dụng giống chất lượng cao thay vì giá rẻ bằng các mô hình thử nghiệm, trình diễn.

Năm 2014, EU đã ban hành một số quy định mới về thủy sản hữu cơ, trong đó quy định cấm việc cắt cuống mắt tôm giống mẹ có hiệu lực từ tháng 1 năm 2015. Tại gốc cuống mắt tôm có một tuyến tiết hormone ức chế sự trưởng thành của buồng trứng, cắt bỏ tuyến này sẽ giảm sự ức chế, kích thích tôm đẻ. Tôm mẹ có thể trưởng thành và đẻ trứng mà không cần cắt mắt, nhưng quá trình này sẽ diễn ra chậm hơn nhiều, thậm chí không bao giờ xảy ra. Trước đây, các kỹ thuật này được quy định bởi mỗi quốc gia, mà Việt Nam là nước cho phép cắt mắt. Hiện chưa rõ quy đinh mới này sẽ được các công ty giống ở Viêt Nam tuân thủ như thế nào.

Hiện tại, Minh Phú đang gặp khó khăn trong việc xuất khẩu toàn bộ sản lượng tôm sinh thái được mua với giá cao hơn 10%. Tuy vậy, theo ông Nguyễn Văn Quang, Chủ tịch HDQT Minh Phú, họ có thể bán tất cả tôm sinh thái với giá mua nguyên liệu cao hơn 5%. Nhìn qua, việc này có vẻ không hợp lý khi người tiêu dùng không chịu chi thêm 10% để mua tôm với chất lượng cao hơn nhiều. Nhưng trên thực tế, 10% này được áp dụng cho tôm nguyên liệu chứ không phải tôm thành phẩm, nó còn áp dụng cho toàn bô các cỡ tôm được thu mua, đối với Nhưng Miên là từ 10 đến 25 con/kg. Không giống với tôm công nghiệp, tôm sinh thái có cỡ rất đa dạng và có thể khó tiêu thụ tất cả các cỡ, bởi các siêu thị, nhà hàng đều có các yêu cầu về kích cỡ khác nhau.

Với tất cả các nguyên nhân trên, 10% khi thu mua có thể biến thành 30% khi tới tay người tiêu dùng. Các nghiên cứu ở Đức chỉ ra rằng khách hàng sẽ không cân nhắc nhiều về giá cả, cho đến khi giá tôm đạt 3,9 Euro cho 1 túi 0,2kg. Đây chính là giá trần mà nếu bị vượt qua, sức tiêu thụ sẽ giảm mạnh.

Sau hội thảo giữa kì này, đã có một cuộc thảo luận giữa Minh Phú, chính quyền địa phương và đại diện người nuôi tôm. Giải pháp đã được đưa ra: Minh Phú sẽ trả người dân 12.900VND/kg, thay vì 10%. Với giá tôm trung bình tại đây khoảng 230.000VND/kg, số tiền này tương đương 5% mà doanh nghiệp cho rằng sẽ bền vững. Sắp tới, thêm 51 thương lái sẽ được tập huấn, cùng với số thương lái cũ, nâng lên tổng số 86 thương lái và 4 trạm thu mua, đảm bảo mạng lưới thu mua đến từng hộ dân có chứng nhận sinh thái.

Cùng với ưu tiên hàng đầu của dự án là nâng cao thu nhập cho bà con, việc chứng nhận còn mang lại một số lợi ích như các chương trình tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật từ chọn con giống, chuẩn bị ao nuôi đến kiểm soát chất lượng nước. Người dân nuôi tôm sẽ có khả năng tiếp cận thị trường quốc tế đối với thực phẩm sạch, an toàn và còn góp phần bảo vệ môi trường canh tác.

 

Work area: 
Biodiversity
Business
Marine and Coastal Ecosystems
Location: 
Viet Nam
Viet Nam
Viet Nam
Go to top