Quy hoạch Chiến lược vùng Châu thổ: kinh nghiệm từ Hà Lan

Vào đêm ngày 31/1/1953, nước biển do ảnh hưởng từ trận bão Biển Bắc và triều cường đã vượt qua cả hàng rào chắn sóng ven biển miền tây nam Hà Lan, cướp đi sinh mạng của 1.800 người và gây ngập lụt 200.000 hec-ta. Chính phủ Hà Lan đã có động thái ứng phó với thảm họa quốc gia này bằng chương trình xây đê biển chặn ba trong bốn cửa sông chính hình thành nên đồng bằng Rhine-Meuse-Scheldt.

Inside East Scheldt storm surge barrier

Hai cửa sông gần phía Bắc nhất bị chặn lại vào những năm 1970 biến khu vực này thành các hồ nước ngọt. Tuy nhiên, để giải quyết những quan ngại về môi trường ngày càng tăng, hàng rào chắn sóng dài 9 km cắt ngang phía đông Scheldt đã được thiết kế 62 cửa xả cho phép thủy triều chảy qua. Những cửa xả này chỉ được đóng khi có báo động về mực nước dâng cao nguy hiểm, và việc đóng đã được thực hiện 25 lần kể từ khi đê được hoàn thành vào năm 1986, có nghĩa cứ một năm một lần nước lại dâng cao đến mức nguy hiểm.

Việc xây dựng đê chắn sóng phía đông Scheldt, là một kỳ quan về kỹ thuật hiện đại, mất 10 năm và tốn 5,5 tỷ EUR, và việc duy tu tiêu tốn 19 triệu EUR mỗi năm. Nhưng khi chúng tôi đến đây vào tháng 5 và có cơ hội được trao đổi với những người quản lý xem liệu chúng ta có thể tính toán được chi phí và lợi ích của công trình vĩ đại này khi xây dựng chúng không, câu trả lời nhận được là không.

Chuyến thăm thực địa này là một phần trong hội thảo quy hoạch chiến lược đồng bằng do UNESCO-IHE, Viên Giáo dục về Nước tổ chức tại Delf với sự tham gia của các đại diện từ Hà Lan, Băng-la-đét, và Việt Nam. Vùng châu thổ về cơ bản là một vùng đất ngập nước rộng lớn trong đó tất cả các cấu phần đều liên quan chặt chẽ đến nhau qua các dòng chảy của nước và trầm tích. Việc tác động hay thay đổi những dòng chảy này thường sẽ gây ra những hậu quả không lường, và nảy sinh những vấn đề mới. Do đó, ngày càng có nhiều sự quan tâm đến việc quy hoạch chiến lược vùng châu thổ.

Đồng bằng sông Cửu Long có đặc tính vô cùng phức tạp bởi biên độ triều đến 4 mét, dòng chảy có tính chất theo mùa cao, gió mùa và luồng chảy biến động nhiều. Tại đây, hậu quả không không mong đợi đã xảy ra, từ năm 2000 bắt đầu xuất hiện việc xây dựng đê để trồng lúa vụ ba. Một nghiên cứu gần đây về các vấn đề kinh tế, môi trường và xã hội liên quan đến việc này cho thấy đây là một ý tưởng sai lầm. (http://www.eepsea.org/pub/rr/2015-RR11_Tong_digital_final.pdf).

Bởi lẽ các đê cao tại Đồng bằng sông Cửu Long đã chặn đường di chuyển phù sa màu mỡ, và ba vụ mùa trong một năm có nghĩa đất không có thời gian trống, người nông dân sẽ phải sử dụng ngày càng nhiều phân hóa học, và thuốc trừ sâu để duy trì sản lượng, vì thế chi phi tăng lên mà lợi nhuận thì giảm đi. Do đê ngăn đường di cư và luân chuyển của cá, nên việc đánh bắt thủy sản cũng suy giảm theo, và do sự thu hẹp của các vùng đồng lũ (rốn lũ), các khu vực dân cư ở hạ nguồn dễ bị ngập lụt nghiêm trọng hơn. Đê bao đã xây dựng và phải tốn kém chi phí duy tu bảo dưỡng đê cho dù người nông dân có hay không muốn trồng lúa vụ ba và họ rơi vào một cái bẫy. Không còn lựa chọn nào khác ngoài canh tác các giống lúa ngắn ngày có giá trị kinh tế thấp là một trong những nguyên nhân lý giải tại sao Đồng bằng sông Cửu Long là nơi có tỷ lệ người nghèo cao tại Việt Nam.

Năm 2013, chính phủ với sự hỗ trợ kỹ thuật của Hà Lan, trong khuôn khổ chương trình Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long (MDP), đã xây dựng chiến lược phát triển dựa trên các đầu tư cho các dự án “không nuối tiếc”. Tức là các dự án có ý nghĩa kinh tế, và không đưa đồng bằng vào một xu thế phát triển không bền vững và không thể đáp ứng được.

MDP là một cột mốc bởi lẽ lần đầu tiên, nó khẳng định rõ cá quyết định về sử dụng đất và nước đều đưa đến những đánh đổi giữa các ngành nghề kinh tế, các khu vực địa lý, và các tầng lớp xã hội. Khuyến nghị của MDP đã tác động đến một dự án thích ứng với biến đổi khí hậu của Ngân hàng Thế giới đang trong quá trình xây dựng và dự án này sẽ hỗ trợ những thay đổi về sử dụng đất và nước để đem lại hiệu quả chi phí, tránh những rủi ro do thích ứng sai.

MDP được mô hình họa dựa trên kinh nghiệm tương tự ở Hà Lan. Năm 2008, nhận thức được vấn đề là quốc gia vẫn chưa chuẩn bị sẵn sàng trước tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt với bài học từ thảm hỏa thiên nhiên Katrina năm 2005, Chương trình Đồng bằng Hà Lan
(http://www.government.nl/issues/delta-programme/introduction-to-the-delta-programme) đã được xây dựng dựa trên nguyên tắc quản lý thích ứng lồng ghép các yếu tố không chắc chắn vào quá trình đưa ra quyết định. Đây là bước để đảm bảo những quyết định ngắn hạn không ảnh hưởng đến các lựa chọn dài hạn, ưu tiên tính linh hoạt, tận dụng những cải tiến lớn trong công tác dự báo thời tiết, thực hiện theo lộ trình chứ không phải theo các bước có điểm dừng cố định. Theo như lời của một đại biểu: “khi áp dụng vào các vùng châu thổ, chu kỳ quy hoạch 5 năm truyền thống không có tác dụng”.

Cách tiếp cận này đã dẫn đến việc chuyển đổi cấu trúc sang các giải pháp môi trường ít tốn kém mà lại đem lại lợi ích gia tăng về kinh tế và văn hóa. Các giải pháp này bao gồm việc tôn tạo bãi biển bằng cát biển khơi, và mở (bằng cống) hai trong số những đê biển lớn nhất để tái tạo lại dòng triều để nâng cao chất lượng nước và cho phép phục hồi ngành nuôi trồng nhuyễn thể có lợi nhuận cao.

Để đảm bảo các quyết định đầu tư tốn kém phải dựa trên các phân tích tốt nhất có thể, Luật Châu thổ của Hà Lan đã được thông qua năm 2011 và một cơ quan chuyên trách được gọi Ủy hội Châu thổ được thành lập. Ủy hội này độc lập với các Bộ, báo cáo trực tiếp đến quốc hội, và quản lý một Quỹ Châu thổ được đầu tư 1 tỷ Euro mỗi năm. Tại Diễn đàn Đồng bằng sông Mê-công tháng 2/2015 tại Hồ Chí Minh, một quan chức cao cấp Chính phủ Việt Nam khuyến nghị Đồng bằng sông Cửu Long nên học tập và áp dụng mô hình này.

Có rất nhiều vấn đề Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm của Hà Lan, bao gồm cải cách chính trị, tăng cường sự tham gia của công chúng, công nghệ mới, và phân tích chi phí lợi ích. Tại Việt Nam, thách thức lớn nhất là làm thế nào để các tỉnh, bộ ngành khác nhau hợp tác vì lợi ích chung – hay nói cách khác làm thế nào để quy hoạch ở cấp độ và quy mô toàn đồng, nhìn nhận được những yếu tố chưa chắc chắn, chú trọng đến các giải pháp sáng tạo, và thích ứng khi có những hiểu biết mới.

 

Work area: 
Marine and Coastal Ecosystems
Water
Wetlands
Location: 
Viet Nam
Viet Nam
Viet Nam
Go to top