Quốc hội và vấn đề nước

Từ 28/3 đến 1/4, Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (QH) sẽ đứng ra tổ chức kỳ họp thứ 132 của Liên minh Nghị viện Quốc tế: http://www.ipu.org/conf-e/132agnd.htm. Trong chương trình nghị sự của kỳ họp này sẽ có nghị quyết về “Hình thành một hệ thống quản trị nước mới: Thúc đẩy các hành động nghị trường về nước”. Để chuẩn bị, QH đã tổ chức một hội thảo vào tháng 12/2014 do Phó Chủ tịch QH chủ trì, để chia sẻ các ý kiến về quản trị nước ở Việt Nam. Các bài trình bày về quản lý nước nội địa và quốc tế và các phiên thảo luận chung đã mang đến một số vấn đề thú vị.

National Assembly Vice President Uong Chu Luu delivering opening remarks at the workshop

Kết luận chính là Việt Nam đã rất nhanh chóng chuyển từ một quốc gia phong phú về tài nguyên nước sang tình trạng khan hiếm nước, nhất là ở các tỉnh phía nam. Động lực chủ yếu dẫn đến việc này là ô nhiễm đô thị và công nghiệp làm cho nước của một vài hệ thống sông lớn không còn phù hợp để sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, và việc phát triển cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ dẫn đến khan hiếm nước theo từng thời kỳ ở các vùng hạ lưu. Trong khi đó, việc sáp nhập Bộ Thủy lợi với bộ Nông nghiệp trong những năm 1990 và việc hình thành Bộ Tài Nguyên và Môi trường với một phần tách ra từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong những năm 2000 đã thậm chí làm yếu đi năng lực kỹ thuật quản lý nước vào đúng thời điểm căng thẳng nhất.

Một mối quan ngại ngày càng lớn liên quan đến vấn đề nước quốc tế, đặc biệt là sông Mê Công. Theo lời của một đại biểu, nếu đại công trình đập Sambor ở Campuchia được xây dựng, đồng bằng Sông Cửu Long sẽ chỉ còn “chờ chết”. Điều này thúc đẩy Việt Nam phê chuẩn Công ước về Nước Quốc tế của LHQ (UNWC) vào tháng 5/2014 và do là quốc gia thứ 35 phê chuẩn công ước, Việt Nam đã giúp công ước này bắt đầu có hiệu lực vào tháng 8/2014. Một bài trình bày về công ước đã nêu bật những nguyên tắc chính – nghĩa vụ phải hợp tác, nghĩa vụ không gây hại nghiêm trọng, và sử dụng công bằng và minh bạch – và điều làm công ước khác với Thỏa thuận Mê Công 1995 là nó bao gồm một cơ chế giải quyết tranh chấp giúp giảm nguy cơ làm hủy hoại các lợi ích cơ bản của các quốc gia.

(Tuy không có trình bày tại hội thảo, IUCN đã tổ chức một khóa đào tạo về UNWC cho các bộ Bộ Ngoại giao vào tháng 9/2014 và sẽ có những đào tạo tiếp theo trong năm 2015. Đào tạo này được thực hiện với sự hỗ trợ của dự án Xây dựng Đối thoại và Quản trị các dòng sông (BRIDGE) là một sáng kiến do IUCN khởi xướng với sự hỗ trọ tài chính của Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sĩ với trọng tâm là nâng cao năng lực quản trị nước tại chính lưu vực xuyên biên giới ở ba khu vực trên toàn cầu, trong đó có lưu vực Mê Công. Thông tin thêm về dự án BRIDGE, có thể tham khảo tại: https://www.iucn.org/about/work/programmes/water/wp_our_work/wp_our_work_bridge/.)

Quản lý tổng hợp tài nguyên nước đòi hỏi phải hình thành được các tổ chức lưu vực sông (RBO) với thẩm quyền nhất định đối với sử dụng và phát triển tài nguyên nước. Năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 120 nhằm thành lập các RBO trên toàn bộ các lưu vực sông lớn của Việt Nam. Trên thực tế, nghị định này vẫn hoàn toàn chưa được thực hiện, và với việc ra đời của luật nước 2013, sẽ cần có một nghị định mới. Tuy nhiên, nhìn vào sự cạnh tranh giữa các tỉnh và các bộ, không có triển vọng nào cho các RBO trong tương lai. Một đại biểu lập luận do vấn đề nước đụng chạm đến mọi khía cạnh của cuộc sống, do vậy thẩm quyền đối với nước rất phức tạp, QH cần đóng một vai trò lớn hơn trong quản lý nước.

Bài trình bày về quản trị nước tại Hà Lan cho thấy cách thức mà Ủy viên Hội đồng Lưu vực báo cáo cho cả các cơ quan hành pháp (các bộ) và cơ quan lập pháp (quốc hội) của chính phủ. (Vị trí này được hình thành sau bão Katrina gây ngập lụt ở New Orleans cho thấy các hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến thảm họa). Do quốc hội là cơ quan giám sát cao nhất đối với các lợi ích quốc gia, nên quốc hội là cơ quan phù hợp cho việc có tiếng nói quyết định trong quản lý nước ở một đất nước sống dưới mặt nước biển. Hơn nữa, do các hành động này đều cần nguồn kinh phí rất lớn, vai trò quan trọng của quốc hộ là tránh nguy cơ đầu tư quá mức và các cơ sở hạ tầng quản lý tài nguyên nước.

Nguy cơ đầu tư quá mức cũng đang thấy rất rõ ràng ở ĐBSCL. Ví dụ, ở một vài khu vực của đồng bằng, khai thác nước ngập làm đất bị sụt với tốc độ lớn hơn 10 lần so với mức nước biển dâng trên toàn cầu; ở nơi khác, đê cao nước xây dựng để sản xuất lúa vụ ba đã làm chuyển nước lụt xuống Cần Thơ, dẫn đến thành phố thường xuyên bị ngập lụt; ở các vùng ven biển, cống ngăn mặn và đê biển không cho phép việc chuyển từ canh tác lúa với giá trị thấp sang nuôi trồng thủy sản với giá trị cao hơn. Điều càng ngày càng trở nên rõ ràng là quản lý thủy văn càng tự nhiên thì các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường sẽ càng lớn – đây là điều mà QH cần cân nhắc khi đối mặt với các lợi ích nhóm như hiện tại.

Việt Nam có nhiều điều để học hỏi và cũng có nhiều kinh nghiệm có thể chia sẻ cho các quốc gia khác, trong đó có cả nhu cầu cần có vai trò lớn hơn của các đại biểu QH trong quy hoạch tài nguyên nước.
 

Work area: 
Water
Wetlands
Location: 
Viet Nam
Viet Nam
Go to top