Diễn đàn Bảo tồn Khu vực Châu á lần thứ năm: những điểm nhấn

18 October 2011 | News story

Từ ngày 27 đến 29 tháng 9 năm 2011, đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà dẫn đầu, ông Jake Brunner – IUCN và năm đại biểu khác đến từ cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ trong nước đã tham dự Diễn đàn Bảo tồn khu vực (RCF) của IUCN tại Incheon, Hàn Quốc. Với sự tham gia của hơn 600 đại biểu, RCF Châu á là diễn đàn thứ chín trong mười một diễn đàn khu vực do IUCN tổ chức hướng tới Hội nghị Bảo tồn thế giới (WCC) sẽ diễn ra ở Jeju, Hàn Quốc vào tháng 9 năm 2012. Qua diễn đàn, các đại biểu đã chia sẻ và ghi nhận một vài điểm chính.  

Hàn Quốc tự khẳng định vị thế của mình là nước dẫn đầu thế giới về tăng trưởng xanh và phát triển carbon thấp. Tổng thống Lee Myung-bak đã coi phát triển xanh là ưu tiên chính sách trước khi nhậm chức vào tháng 2 năm 2008. Ông đã thành lập một ủy ban của chính phủ vào tháng 2 năm 2009 và luật về phát triển xanh đã được thông qua vào tháng 12 năm 2009. Vì thế, Hàn Quốc không chỉ dừng lại ở “nói hay” (vốn thường được nghe ở Việt Nam) mà còn ban hành luật và các quy định để tăng trưởng xanh trở thành hiện thực. Hàn Quốc chính là một thông điêp cho thấy duy trì một nền kinh tế năng động đồng thời vẫn đảm bảo chất lượng môi trường cao là hoàn toàn có thể thực hiện.

Tuy nhiên, những tiến bộ trong giảm phát thải carbon của Hàn Quốc chủ yếu là do cải tiến hoạt động của một vài công ty xuất khẩu lớn như POSCO, Samsung và LG. Không có gì ngạc nhiên khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có nhiều tiến triển trong vấn đề này. Một vấn đề cần quan tâm khác là điều gì làm nên “tăng trưởng xanh”. Người thuyết trình đã minh họa bằng một dự án trị giá 17 tỷ đô-la Mỹ nhằm khôi phục bốn dòng sông của Hàn Quốc. Tuy nhiên một số đại biểu cho rằng dự án này chủ yếu nâng cao hoạt động của giao thông đường thủy thông qua nạo vét và phân luồng.

Đại diện của Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) cho rằng các Bộ trưởng Môi trường đang ngày càng quan tâm đến các vấn đề tài chính và các Bộ trưởng Tài chính đang ngày càng nhận thức rõ các vấn đề môi trường, vì thế hệ thống kế toán xanh hoàn toàn có cơ hội phát triển. Được ra đời vào những năm 1980, kế toán xanh hạch toán chi phí môi trường vào kết quả tài chính của các doanh nghiệp và của quốc gia. Mặc dù các phương pháp đã được xây dựng rất cụ thể nhưng vẫn còn tồn tại nhiều rào cản. Dự án kế toán xanh do Ngân hàng Thế giới tài trợ ở Trung Quốc đã phải dừng hoạt động do yêu cầu của lãnh đạo chính quyền tỉnh sau khi các nghiên cứu của dự án cho thấy một vài tỉnh đang có tốc độ tăng trưởng âm. Điều này cho thấy cần phải gắn chế độ khen thưởng của các lãnh đạo địa phương với ưu tiên chính sách quốc gia. Đây là một cuộc cải cách sâu rộng mà Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc rất ủng hộ. Ngược lại, nếu không có những cải cách này thì kế toán xanh sẽ mãi chỉ là một bài tập lý thuyết.

Mặc dù không được thảo luận tại RCF, nhưng một vấn đề cần được nêu ra là việc bạn đưa ra một “mức giá” đúng cho đa dạng sinh học không có nghĩa là bạn sẽ đạt được kết quả mình mong muốn. Ở Việt Nam, dự án REDD đưa ra những động lực tài chính để bảo vệ các khu rừng đã gặp phải một khó khăn là những khoản chi trả của dự án không thể so sánh được với những lợi nhuận từ trồng cà phê và sắn. Nói một cách khác, cách tiếp cận dựa trên thị trường trong bảo tồn sẽ không theo cái bạn muốn. Một vấn đề khác là trong khi các dự án đập thủy điện có tổng giá trị hiện tại thuần dương, nhưng lợi nhuận chỉ thuộc về số ít (những người có tiếng nói trọng lượng) còn thiệt hại lại do số đông những người dân không có tiếng nói phải chịu. Nói một cách khác, việc chia sẻ lợi giữa lợi và hại cần phải xem xét lại.

Một vấn đề được sự đồng thuận rộng rãi giữa các thành viên của IUCN là thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp. Sau WCC lần thứ nhất được tổ chức tại Montreal năm 1996, IUCN đã mở rộng quan hệ hợp tác với khu vực tư nhân. Tại WCC Băng-kốc năm 2004, các thành viên đã thông qua một số nghị quyết về quy chế hợp tác của IUCN đối với khu vực tư nhân. Tại RCF, phiên thảo luận của các nhà lãnh đạo cao cấp (CEO) đã nhấn mạnh đến vai trò đi đầu của rất nhiều công ty trong việc giảm thiểu phát thải carbon và tuân thủ các tiêu chuẩn xã hội và môi trường cao hơn các tiêu chuẩn quốc gia. Đây chắc chắn là những gì đang diễn ra ở Việt Nam, nơi mà các công ty đa quốc gia, ví dụ như trong ngành du lịch và khai khoáng đã thực hiện nghiêm ngặt các tiêu chuẩn xã hội và môi trường tốt hơn các doanh nghiệp trong nước.

Một phần đặc biệt của RCF là truyền thông. Sau 20 năm, mức độ nhận thức của người dân về lợi ích có không khí trong sạch, nước sạch, v.v đã tăng đáng kể. Tuy nhiên để đảm bảo xã hội quan tâm và hỗ trợ bảo tồn hệ sinh thái và các loài là một vấn đề khó khăn hơn. Thực sự, những thông điệp bi quan của chúng ta có thể làm cho người dân không còn hứng thú nữa. IUCN cần làm tốt hơn, tôn vinh những câu chuyện thành công. Một số ví dụ được nêu ra ở RCF bao gồm việc phục hồi rừng ngập mặn nhanh chóng ở Ấn Độ sau trận sóng thần năm 2004; thỏa thuận đồng hợp tác và tự huy động vốn cho Tanguar Haor, khu đất ngập nước tầng cao và cũng là khu Ramsar ở Bangladesh; và số lượng các khu bảo tồn biển ở Hàn Quốc tăng lên gấp ba. IUCN cũng cần sáng tạo hơn khi đưa ra các thông điệp, xác định đối tượng tác động và các đối tác. Một số đại biểu nhấn mạnh IUCN cần phải thu hút sự tham gia của học sinh sinh viên và các chuyên gia trẻ tuổi.

Chủ tịch IUCN Ashok Khosla nhận định theo kinh nghiệm quốc tế, một điều kiện tiên quyết để bảo tồn thiên nhiên hiệu quả là có các tổ chức phi chính phủ “thận trọng” đủ năng lực (và tiềm lực chính trị) để hợp tác và hỗ trợ chính phủ vì môi trường có chất lượng tốt hơn. Một ví dụ điển hình là trường hợp của Aaranyak, một tổ chức phi chính phủ của Ấn Độ hỗ trợ quản lý Vườn Quốc Gia Kaziranga có diện tích chỉ 43,000 hecta nhưng lại có số lượng tê giác, hổ và voi lớn hơn tất cả của Việt Nam, Thái Lan, Cam-pu-chia và Lào cộng lại. Ở Việt Nam, MCD cũng giữ vai trò tương tự ở Vườn Quốc Gia Xuân Thủy. Và ở Bangladesh, Tanguar Haor có sự tham gia quản lý của các cơ quan khoa học quốc gia, mạng lưới Ramsar và các tổ chức phi chính phủ trong nước. Tuy nhiên, chính phủ đôi khi chỉ hợp tác với các tổ chức phi chính phủ một cách miễn cưỡng. Như một đại biểu của Pakistan đã nói, vì sao chính phủ phải tài trợ cho những tổ chức cứu trợ pháp lý luôn cố gắng và yêu cầu chính phủ phải có trách nhiệm giải trình? Nhưng Ashok đã nói: “Các chính phủ phải ủng hộ những hành động này dù đó là việc khó khăn”.

Một số đại biểu ủng hộ IUCN tập trung vào mảng môi trường đô thị. Đây là vấn đề rất quan trọng bởi hơn một nửa dân số toàn cầu đang bị đô thị hóa và các thành phố là nơi diễn ra các hoạt động đổi mới.

Cuối cùng, qua những phần thảo luận, sự tham gia của các quan chức cấp cao của chính phủ Hàn Quốc và số lượng kỷ lục các tổ chức đăng ký làm thành viên (riêng Hàn Quốc đã có 20 tổ chức), IUCN được đánh giá vẫn là một tên tuổi lớn. Ở Việt Nam, chúng ta cần tạo thêm nhiều giá trị cho thương hiệu của IUCN thông qua việc hỗ trợ tốt hơn cho các thành viên hiện tại và liên kết thêm nhiều thành viên mới.

Jake Brunner – Điều phối viên Chương trình IUCN Việt Nam