Sông Mê kông: Vấn đề hạn hán, đập và thời điểm quyết định

26 April 2010 | News story
0 CommentsWrite a comment

 

 

Hội nghị quốc tế của Ủy ban Sông Mê Kông với chủ đề “Quản lý Tài nguyên nước liên biên giới trong một thế giới thay đổi” đã được tổ chức tại Hua Hin, Thái Lan vào hai ngày 2 – 3 tháng 4, 2010, ngay trước thềm cuộc họp Hội đồng Ủy ban và Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất của Ủy ban sông Mê Kông diễn ra vào hai ngày 4 – 5 tháng 4, 2010. Những sự kiện này được tổ chức nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày ký Hiệp định Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông giữa chính phủ các quốc gia Campuchia, CHDCND Lào, Thái Lan và Việt Nam vào năm 1995, với mục tiêu đổi mới, tăng cường cam kết hỗ trợ ở cấp cao nhất của bốn nước thành viên Ủy hội, và thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược ở vùng thượng nguồn là Trung Quốc và Myanmar. Những sự kiện này cũng diễn ra vào thời điểm khi vai trò của sông Mê Kông ngày càng được cộng đồng nhìn nhận và các quyết định có thể gây ảnh hưởng lớn tới dòng sông về mọi mặt tự nhiên, môi trường, xã hội và kinh tế vẫn còn chưa ngã ngũ.

Trong vòng sáu tháng qua, vùng tây nam Trung Quốc, bắc Lào và vùng bắc Thái Lan đang phải đối mặt với một trận hạn hán khắc nghiệt. Hậu quả là mực nước sông Mê Kông giảm thấp tới mức nghiêm trọng. Do vậy, ngay trước hội nghị thượng đỉnh, báo chí và cộng đồng Thái Lan đã đặt ra câu hỏi về tác động của các đập do Trung Quốc xây dựng đối với thực trạng cạn kiệt của sông Mê Kông. Báo chí nêu ra các nghi ngờ về việc các đập này đang giữ nước lại, đồng thời kêu gọi Thủ tướng Thái Abhisit Vejjajiva nêu vấn đề này với Trung Quốc. Thông thường, Chính phủ Trung Quốc vẫn chia sẻ các dữ liệu khí tượng thủy văn vào mùa mưa với Ủy ban sông Mê Kông. Ngay trước hội nghị thượng đỉnh, Trung Quốc lần đầu tiên chia sẻ các dữ liệu khí tượng thủy văn mùa khô. Bài trình bày của phó Tổng Cục trưởng Chen Mingzhong, Cục Thủy Lợi Trung Quốc có nêu các dữ liệu chỉ ra sự cân đối giữa lưu lượng nước đổ vào và chảy ra từ các đập “Manwan”, “Dachaoshan”, và “Jinghong”, lưu lượng nước chảy ra từ đập Xiowan vào các tháng đầu năm 2010 đã vượt quá lưu lượng nước đổ vào đập là 500 triệu m3 (điều này cho thấy Trung Quốc đã giúp giảm thiểu tình trạng khan hiếm nước ở vùng hạ lưu). Các phân tích đăng tải trên website của Ủy ban sông Mê Kông cũng cho thấy mực nước ở Chiang Khong, bắc Thái Lan thực sự cao hơn mức dự kiến – có thể do Trung Quốc xả nước từ các đập nhiều hơn lượng nước thực sự đổ vào đập. Tuy vậy, lượng nước bổ sung này đã giảm dần cho tới khoảng giữa tháng hai, khi mực nước sông ở vùng bắc Thái Lan đột ngột giảm mạnh.

Hội nghị tập trung vào việc chia sẻ kinh nghiệm quốc tế với các phần trình bày từ các tổ chức lưu vực sông ở Trung Quốc, Hoa Kỳ, châu Âu và châu Phi. Tuy nhiên, chương trình lại dành không nhiều thời gian cho phần giải đáp các câu hỏi. Nhiều bài trình bày khá thú vị, tuy nhiên lại khó thấy được mối liên hệ, sự phù hợp đối với sông Mê Kông. Thêm thời gian cho việc thảo luận hoặc làm việc theo nhóm có thể đem lại hiểu biết sâu hơn cũng như học hỏi được nhiều kinh nghiệm hơn từ các lưu vực với đặc điểm con người và điều kiện tự nhiên khác. Chẳng hạn như, mật độ dân số lưu vực sông Amazon chỉ bằng 1/20 mật độ dân số lưu vực sông Mê Kông, áp lực phát triển cũng có sự khác biệt lớn; hoặc như Văn phòng Ủy ban sông Rhine có chưa đầy 10 nhân viên trong khi đó Ủy ban sông Mê Kông lại có hơn 100 nhân viên. Và mặc dù các tác động có thể xảy ra do sự thay đổi khí hậu được đề cập đến khá đầy đủ, một số vấn đề cấp thiết trước mắt lưu vực sông Mê Kông đang phải đối mặt lại không dành được sự quan tâm đáng có.

Trong bài trình bày trước Thủ tướng bốn nước, Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Song Tao đã nêu ra ba ví dụ về thông lệ quốc tế tốt đã được áp dụng tại các đập ở sông Lan Thương: chấm dứt hoạt động của đập “Mengsong” do có tác động tới di cư của loài cá da trơn; đầu tư 30 triệu đô la để phân tầng nguồn nước lấy vào đập “Nuozhadu” nhằm giảm tác động đối với nhiệt độ nước vùng hạ lưu; và lập quy hoạch cho hồ điều hòa “Ganlanba” đảm bảo tương đối ổn định lưu lượng nước ở vùng hạ lưu.

Thứ trưởng Song Tao đưa ra một số đề xuất trong việc hợp tác giữa Trung Quốc và Ủy ban sông Mê Kông bao gồm tăng cường đối thoại và tin cậy lẫn nhau; tăng cường hợp tác giao thông đường thủy, phát huy tối đa lợi thế hợp tác Hiệp định Tự do Thương Mại (FTA) Trung Quốc - ASEAN cũng như thúc đẩy “Tuyến Du Lịch Vàng”; phối hợp giảm thiểu thiên tai (lũ lụt và hạn hán). Thứ trưởng cũng đề xuất thực hiện trao đổi kỹ thuật và đóng góp công nghệ Trung Quố cho công tác phát triển thủy điện.

Trong các phát biểu của mình tại hội nghị thượng đỉnh, Thủ tướng bốn quốc gia thành viên của Ủy ban sông Mê Kông đã hoan nghênh sự phối hợp của Trung Quốc và cảm ơn về việc Trung Quốc chia sẻ các dữ liệu khí tượng thủy văn vào mùa khô. Thủ tướng Campuchia Hunsen và Thủ tướng Lào Bouasone Pouphavanh không những thế đã đề nghị Trung Quốc (và Myanmar) cân nhắc lời mời tham gia làm thành viên Ủy ban sông Mê Kông. Thủ tướng Bouasone cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các nền văn hóa trong lưu vực sông, điểm đến của ngành du lịch, cũng như yêu cầu phải duy trì các giá trị sinh thái của dòng sông. Thủ tướng Thái Lan Abhisit nhấn mạnh tầm quan trọng của dòng sông như một đặc điểm chung của khu vực ASEAN.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh khu vực đồng bằng sông Mê Kông, vựa lúa của Việt Nam, đang chứng kiến các thay đổi rõ rệt. Thủ tướng nhận thấy cần thiết phải đánh giá toàn diện về thay đổi khí hậu trong khu vực và kiến nghị tiến hành một hội thảo quốc tế tại Việt Nam để khởi xướng sáng kiến này. Với vai trò là Chủ tịch ASEAN, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mời thủ tướng Thái Lan tóm tắt các kết quả của cuộc họp thượng đỉnh lần thứ nhất của Ủy ban sông Mê Kông tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 16. Thủ tướng cũng mời các đại biểu tham dự Hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai của Ủy ban sông Mê Kông sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào năm 2014.

Ông Peter Lysholt Hansen, đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam đọc tuyên bố của các đối tác phát triển, đã được thông qua bởi 19 tổ chức bao gồm các tổ chức tài trợ lớn của Ủy ban sông Mê Kông, cũng như của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Ngài đại sứ nêu ra các vấn đề mang tính cấp thiết về thủy sản, sinh kế, và phát triển thủy điện như sau:

“Lưu vực sông Mê Kông có thể là vùng phát triển thủy sản lớn nhất trên thế giới. Khu vực này cung cấp khoảng 2% tổng lượng cá đánh bắt hàng năm trên toàn thế giới” và “hàng triệu ngư dân và nông dân trong lưu vực sông Mê Kông, đặc biệt các ngư dân và nông dân trong các vùng ngập lũ và vùng đồng bằng, sống phụ thuộc vào các trận lũ hàng năm, phù sa và các chất màu do dòng sông đem lại để duy trì sản lượng cá và nông nghiệp”.

Tuyên bố cũng nhấn mạnh:

“Do tầm quan trọng của nghề đánh bắt thủy sản, nên những tác động có thể có đối với ngành thủy sản phải được tính đến khi đưa ra các quyết định và đưa vào hoạt động các công trình hạ tầng cơ sở trong lưu vực, đặc biệt là thủy điện tại các lưu vực sông.”

Rõ ràng vấn đề phức tạp và lớn nhất mà sông Mê Kông đang phải đối mặt hiện nay là một loạt các công trình thủy điện được đệ trình xây dựng ở khu vực hạ lưu sông, và bởi sự đánh đổi giữa cái được và cái mất. Các đập sẽ cản trở các loài thủy sinh di trú, làm giảm cường độ và thời gian của đỉnh lũ, do vậy cũng làm giảm sản lượng đánh bắt thủy sản ở vùng hạ lưu. Sự suy giảm dù nhỏ cũng có thể gây tác động nghiêm trọng tới an ninh lương thực. Báo cáo Hiện trạng lưu vực sông Mê Kông 2010 của Ủy ban đã trình bày rất rõ ràng về những hậu quả này. Báo cáo này cũng ước tính rằng các lợi ích của các dịch vụ và hàng hóa hệ sinh thái từ các trận lũ hàng năm của sông Mê Kông gấp hàng trăm lần so với thiệt hại do lũ gây ra. Tuy vậy, bài phát biểu của ông phó Tổng Cục trưởng Chen Mingzhong lại nhấn mạnh vào các lợi ích điều tiết lũ của các đập trên sông Lan Thương mà không đề cập gì tới các tác động bất lợi đối với môi trường. Một trong số các bài phát biểu hay nhất trong hội nghị, Chương trình Phát triển Lưu vực sông của Ủy ban sông Mê Kông đã kết luận rằng một triệu người Campuchia sẽ mất khả năng sinh kế nếu các đập đề xuất trên dòng chảy chính của con sông được xây dựng.

Cùng với những lo ngại này là sự thiếu hiểu biết về quy mô và phạm vi của một số các tác động tiềm tàng khác. Chẳng hạn như các đập sẽ chặn dòng phù sa giữ cho đồng bằng sông Mê Kông cao hơn mực nước biển. Nếu khu vực đồng bằng chìm dần, các khu rừng ngập mặn sẽ biến mất, thành phố HCM sẽ phải hứng chịu ngày càng nhiều bão nhiệt đới. Thành phố HCM có thể trở thành một New Orleans thứ hai, chỉ với một khác biệt quan trọng là khu vực này đóng góp một nửa GDP của toàn Việt Nam. Không có bài phát biểu nào trong hội nghị quốc tế này chỉ ra được vấn đề ngăn chặn sự lưu thông của phù sa đã được giải quyết thành công ra sao ở những dòng sông lớn có sự phát triển đáng kể của thủy điện.

Do vậy, trong khi các lợi ích của việc bán năng lượng chủ yếu là phục vụ cho các chính phủ, các doanh nghiệp nhà nước, nhà đầu tư, các công ty xây dựng, các nhà vận hành thủy điện, hàng triệu người dân nghèo nông thôn đang phải trả giá. Làm thế nào thiết kế được một cơ chế chia sẻ lợi ích một cách công bằng trong những điều kiện như vậy? Sự không công bằng này là quá rõ ràng và cũng được ghi chép đầy đủ. Câu hỏi đặt ra là: Ai là người quyết định để cân đối giữa lợi ích và cái giá phải trả? Câu trả lời rõ ràng là các chính phủ. Nhưng nếu các quốc gia có rất ít hoặc không có sự tham gia của cộng đồng vào quá trình quyết định cũng như trách nhiệm giải trình của chính phủ rất hạn chế thì ảnh hưởng của các đập lớn nơi mà khoảng cách giữa kẻ được và người mất quá lớn sẽ là gì? Và điều gì xảy ra nếu những người chịu thiệt thòi thậm chí còn không phải là công dân của nước mà con đập được xây dựng?

Đối với Việt Nam, các con đập xây dựng ở vùng thượng nguồn sông Mê Kông là mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh quốc gia do các tác động có thể có đối với vùng đồng bằng mang tính sống còn về mặt kinh tế, tuy nhiên vấn đề này lại chưa được báo chí trong nước thật sự quan tâm. Tại diễn đàn trong khu vực cho tới nay, nguyên tắc về chủ quyền dân tộc đã cản trở sự hợp tác đối với tiếp cận chia sẻ lợi ích hiệu quả tại khu vực sông Mê Kông.

Những lo ngại giữa cái được và mất, cũng như sự không kiên định sẽ trở thành chủ đề bàn luận khi năm nay chính phủ Lào đệ trình thông báo chính thức mong muốn xây dựng một hoặc nhiều con đập trên dòng chảy chính của sông Mê Kông. Đây sẽ là một thử thách đối với sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với Ủy ban sông Mê Kông trong 15 năm qua. Ủy ban sông Mê Kông đã bước vào thời điểm quyết định. Một thách thức đối với Ủy ban là hỗ trợ quá trình gắn kết lợi ích của tất cả các bên liên quan và chủ trương thực hiện các hoạt động đối lập với lợi ích ngắn hạn của quốc gia? Nếu không, hàng trăm triệu đô la của các nhà tài trợ kể từ năm 1995 đến nay có thể trở thành vô nghĩa.

 


Comments

0 Comments
Write a comment

600 CHARACTERS LEFT

captcha