Một số nhận định về đồng quản lý và quản trị rừng tại Việt Nam

07 April 2010 | News story
0 CommentairesWrite a comment

 

 
 
 

Một trong những nghịch lý của bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường nói chung ở Việt Nam là sự khác nhau giữa lý thuyết và thực tế. Chính sách và kế hoạch của Chính Phủ đặt ra những mục tiêu tham vọng về độ che phủ rừng, bảo vệ các loài quý hiếm đang bị đe dọa và nhu cầu lồng ghép vấn đề môi trường vào quá trình hoạch định chính sách. Thực tế, mức đầu tư của Chính phủ Việt Nam vào các khu bảo tồn/ha thuộc trong những quốc gia có mức đầu tư cao nhất trên thế giới. Tuy nhiên, diện tích rừng già tiếp tục suy giảm và ngày càng nhiều các loài động vật hoang dã bị mất đi. Tương lai của nhiều loài động vật quý hiếm đang bị đe dọa ngày càng phụ thuộc vào các trung tâm cứu trợ.


Bản chất hay nguyên nhân gốc rễ của sự khác nhau giữa lý thuyết và thực tế đã được phản ảnh tại hội thảo về Đồng Quản lý do GTZ tổ chức tại Sóc Trăng từ ngày 17-19, 2010. Hội thảo đã giới thiệu một số mô hình về đồng quản lý, bao gồm thỏa thuận đồng quản lý rừng ngập mặn tại thôn Au Tho B do dự án GTZ hỗ trợ. Dự án này và dự án bảo tồn rừng ngập mặn do CARE hỗ trợ cũng đã được thảo luận tại hội thảo do IUCN tổ chức vào tháng 12.2009. Có thể vào trang web: www.iucn.org/about/union/secretariat/offices/asia/asia_where_work/vietnam/news/?uNewsID=4495. để tham khảo nội dung tóm tắt kết quả thảo luận. Kỷ yếu hội thảo đồng quản lý tổ chức tại Sóc Trăng sẽ được công bố và có thể tìm kiếm các tài liệu khác của dự án trên trang web của dự án: www.czm-soctrang.org.vn.


Mô hình đồng quản lý có một số lợi thế vì dựa trên tiến trình có sự tham gia và thống nhất thỏa thuận trên cơ sở đàm phán giữa chính phủ và cộng đồng. Mô hình đồng quản lý thể hiện thẩm quyền của nhà nước. Mặt khác, lâm nghiệp cộng đồng cũng phân quyền mạnh hơn cho cộng đồng địa phương trong việc quản lý tài nguyên rừng theo phương thức họ thấy phù hợp. Tuy nhiên, đối với một số cán bộ nhà nước, điều đó được xem như sự mất kiểm soát đáng lo ngại. Đó có thể là 1 trong những lý do vì sao trong quá trình xã hội hóa lâm nghiệp, cộng đồng chỉ được giao 1% tổng diện tích rừng (so với 29% giao cho hộ gia đình và 69% giao cho các cơ quan nhà nước).


Mô hình đồng quản lý cũng phù hợp trong hệ sinh thái động (thường phân bố rải rác) cung cấp hàng hóa công quan trọng như rừng ngập mặn và đất ngập nước. Kết quả nghiên cứu của dự án GTZ cho thấy việc giao rừng ngập mặn cho hộ gia đình quản lý tại thôn Au Tho B không mang lại thành công trong việc bảo tồn các dài rừng ngập mặn mỏng. Ở phạm vi quốc gia, cơ chế giao khoán rừng trong đó các hộ gia đình bảo vệ rừng nhận được một vài USD/ha/năm cũng không thể ngăn chặn suy thoái rừng. Chưa có đủ ngân sách để đền bù cho các chi phí cơ hội bảo vệ rừng và cũng không có cơ chế giám sát để đảm bảo việc thực hiện tuân thủ các yêu cầu đề ra – về cơ bản, đây là chi trả phúc lợi.


Mô hình đồng quản lý có tiềm năng trở thành mô hình lồng ghép vào quản lý tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam, như Thứ trưởng Hứa Đức Nhị đã kết luận tại hội thảo. Trên thực tế, Bộ NN-PTNT đã dự thảo nghị định quản lý các khu bảo tồn trong đó đề cập cụ thể đến hình thức “quản lý tập thể” và bao gồm các điều khoản có thể cho phép ban quản lý ký hợp đồng khoán với cộng đồng (và hộ gia đình, cá nhân, đơn vị kinh doanh, vv) để thực hiện nhiệm vụ quản lý khu bảo tồn (ví dụ., du lịch). Điều này rất quan trọng vì trong khi luật BVPTR và chính sách lâm nghiệp tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia thì các quy định thực hiện chưa quy định như vậy. Hơn nữa, có sự khác nhau giữa quản lý rừng và (chức năng của nhà nước) và bảo vệ rừng (có thể khoán cho các hộ gia đình).


Ngân hàng Thế giới cũng hỗ trợ Bộ NN-PTNT xây dựng Nghị định về chia sẻ lợi ích (a.k.a. đồng quản lý) tại 6 khu bảo tồn. (Quyết định 186 ban hành năm 2006, cấm cộng đồng tham gia quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên trong khu bảo tồn) trong khi đó tại hội thảo, các đại biểu phản ảnh nhiều ý kiến lo ngại về việc mở cửa các khu bảo tồn và vườn quốc gia phục vụ các mối quan tâm và lợi ích bên ngoài. Thực tế cho thấy đã mở cửa để tiếp cận nguồn tài nguyên vốn đã bị khai thác nặng nề. Nghị định chia sẻ lợi ích đề xuất chỉ đơn giản quy định những gì đã diễn ra trên thực tế.


Một số dự án đồng quản lý trong lĩnh vực thủy sản triển khai ở khu vực đầm phá Tam Giang-Cau Hai tại tỉnh Thua-Thien-Hue và đầm phá ở tỉnh Bình Định đã có những tiến triển đáng khích lệ. Không chỉ xây dựng và ban hành các quy định thực hiện, các cơ quan chức năng ở tỉnh đã có những đóng góp, hỗ trợ mạnh mẽ về thể chế. Một trong những lý do dẫn đến những kết quả thành công ban đầu bắt nguồn từ việc khai thác nguồn lợi thủy sản không bền vững dẫn đến làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và vì vậy cần phải thực hiện các phương pháp tiếp cận quản lý mới phù hợp hơn. Việt Nam có ít nhất 1 triệu ngư dân khai thác nguồn lợi thủy sản quá mức. Họ tạo ra nhiều áp lực vào nguồn tài nguyên thủy sản thông qua các hoạt động như khai thác quá mức và sử dụng thuốc nổ, chất độc cũng như các công cụ phá hủy khác. Trong khi đó, Chính phủ có kế hoạch mở rộng mạng lưới khu bảo tồn biển và điều đó thậm chí còn gây thêm áp lực vào các khu vực ngoài khu bảo tồn.


Việc tuân thủ chặt chẽ hơn các quy định quản lý và vì vậy sẽ giảm bớt khối lượng công việc của các cơ quan chức năng được coi là một lợi ích khác do cơ chế đồng quản lý mang lại. Nhưng đồng quản lý cũng có thể yêu cầu chính phủ có sự quan tâm nhiều hơn. Khi được hỏi về những khó khăn, thách thức lớn nhất gặp phải, trưởng ban đồng quản lý ở thôn Âu Thọ B cho biết, ông không thể ngăn cản người ngoài vào rừng ngập mặn để thu lượm hải sâm/đồm độp mà bản thân các thành viên trong ban đã thống nhất không khai thác. Nói cách khác, người dân bên ngoài hoàn toàn tự do cưỡi lên những người tuân thủ theo quy định. Một trong những giải pháp là đảm bảo rằng cộng đồng dân cư lân cận nhận thức được các quy định mới này. Ngoài ra, các cơ quan chức năng giúp người dân áp dụng các hình thức xử phạt thích hợp đối với những đối tượng vi phạm. Nếu không giải quyết được gốc rễ của vấn đề này thì tương lai của cơ chế đồng quản lý ở Việt Nam cũng không mấy khả thi.


Kết quả 50 cuộc phỏng vấn cộng đồng địa phương xung quanh vườn quốc gia Bạch Mã trong quá trình xây dựng nghị định chia sẻ lợi ích, cho thấy người dân thôn bản thích tham gia vào các hoạt động bảo vệ rừng nhưng rất nản lòng về tình trạng khai thác rừng trái phép. Thông thường, các hình thức xử phạt được áp dụng để ngăn cản người ngoài vào rừng. Nhưng người ngoài thường là những những đối tượng buôn bán gỗ có trang bị súng. Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm dường như không cung cấp hỗ trợ hiệu quả cho người dân để đối phó với mối đe dọa này. Trên thực tế, đã có một số tài liệu mô tả những trường hợp lực lượng kiểm lâm đồng lõa trong buôn bán gỗ trái phép. Kết quả khảo sát động vật hoang dã mới đây tại Cao nguyên cho thấy trong 1.700 giờ quan sát tại hiện trường, thành viên đội khảo sát không gặp một cán bộ kiểm lâm nào đi tuần tra trong rừng. Lực lượng tuần tra thậm chí còn hiếm thấy hơn. Lực lượng kiểm lâm thường không đi tuần tra trong rừng mà tập trung tại các điểm tập kết bên ngoài rừng. Điều này giúp giải thích lý do vì sao lực lượng kiểm thống kê đã bắt giữ được 60.000 trường hợp vi phạm trong một năm trong khi đó chất lượng rừng tiếp tục bị suy giảm.


Quá trình hoạt động chưa thực sự hiệu quả của lực lượng kiểm lâm và mô hình phổ biến hiện vẫn đang áp dụng trong đó vai trò của cộng đồng người dân địa phương là giúp chính phủ đạt được mục tiêu đề ra mà không có quyền lợi rõ ràng cũng là lý do vì sao việc lồng ghép đồng quản lý sẽ rất khó khăn. Trên thực tế, chính phủ chưa có cơ chế khuyến khích đồng quản lý vì việc đàm phán với người dân địa phương về mâu thuẫn rủi ro, giải quyết và chỉ trích mâu thuẫn có thể ảnh hưởng tới sự nghiệp của cán bộ. Nghị định mới Bộ NN-PTNT đang dự thảo có thể phản ảnh sự sẵn lòng thực hiện cải cách chính sách để hỗ trợ đồng quản lý, ít nhất là trong các khu bảo tồn và các vùng thí điểm. Cải cách chính sách là cần thiết nhưng điều đó chưa đủ; cần có sự thay đổi chính sách cũng như các hoạt động thực tế hướng tới hình thức quản trị rừng có sự tham gia. Khái niệm về quản trị bao gồm bản chất của thách thức, khó khăn là: “hình thành, khẳng định lại, hoặc thay đổi thể chế để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp về tài nguyên” .Quá trình cải cách như vậy thực sự là khó tưởng tượng ở Việt Nam thời đương đại nếu không có sự tham gia, chỉ đạo của các cơ quan nhà nước.


Khó khăn, thách thức quả là lớn đối với Việt Nam vì trải qua nhiều thập kỷ tồn tại mâu thuẫn, xung đột, dưới sự kiểm soát của nhà nước và tình hình di dân quy mô lớn đã làm hạn chế khả năng và tính sáng tạo của cộng đồng. Họ quen với cách làm những gì được yêu cầu. Đàm phán với chính phủ về quyền bình đẳng là trọng tâm của hình thức đồng quản lý và đây là một hình thức hoàn toàn mới. Các dự án đồng quản lý do GTZ và FFI hỗ trợ đã cho thấy cần nhiều thời gian để tham vấn và tổ chức trước khi có thể tiến hành đàm phán. Tham vấn và tổ chức cộng đồng đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian và nguồn lực và câu hỏi đặt ra là liệu lực lượng kiểm lâm có quan tâm thực hiện vai trò này hay không? Một số sở thủy sản sẵn sàng đầu tư nguồn lực của họ để tổ chức hình thức đồng quản lý. Nhưng thậm chí ngay trong lĩnh vực thủy sản vẫn chưa có một thỏa thuận về đồng quản lý nào không có sự tham gia của tổ chức quốc tế.
 


Commentaires

0 Commentaires
Write a comment

600 CHARACTERS LEFT

captcha