Trồng, bảo vệ và chia sẻ lợi ích: ba mắt-xích không thể thiếu trong bảo tồn rừng ngập mặn

15 July 2013 | Article

Trong một chuyến đi tới Đầm Lăng Cô, Thừa Thiên Huế - địa bàn thực hiện một dự án nhỏ của MFF, chúng tôi đã gặp anh Nguyễn Xuân Vĩnh, chủ một nhà hàng hải sản ở Lăng Cô. Anh Vĩnh đã tự nguyện trồng 2 hec-ta rừng ngập mặn ngay từ những ngày đầu thực hiện dự án. Khi tôi hỏi lý do anh làm việc này, anh giải thích: “anh vẫn còn nhớ trước đây khi còn rừng, có rất nhiều loài thủy sản quý hiếm. Nhưng bây giờ không còn rừng nữa thì rất khó để tìm được những con này. Nếu anh có thể tìm lại được chúng, chắc chắn sẽ bán được rất đắt ở nhà hàng và cách duy nhất làm được điều đó là trồng rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn còn giúp lọc nước rất tốt mà không có máy móc hiện đại nào có thể làm được”. Từ đó, anh Vĩnh bắt đầu tự tìm hiểu các tài liệu trên mạng về kỹ thuật trồng rừng và nuôi xen ghép cua cá dưới tán rừng ngập mặn.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, rừng ngập mặn ở Lăng Cô không được công nhận là “rừng” mà chỉ là đất “chưa sử dụng” do mức độ phân tán cao. Thêm vào đó, khu vực trồng rừng của anh Vĩnh do Ban quản lý Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô quản lý và bất cứ hoạt động sử dụng đất nào đều cần được Ban quản lý cho phép. Do Ban quản lý ưu tiên các hoạt động phát triển kinh tế nên kế hoạch trồng rừng ngập mặn của anh Vĩnh đã không được chấp thuận.

Với sự tài trợ của MFF, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cộng đồng (CCRD) đã làm việc với Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế để khảo sát tình trạng rừng ngập mặn ở Lăng Cô. Kết quả khảo sát cho thấy trước đây, đầm Lăng Cô có khoảng hơn 100 hec-ta rừng ngập mặn nhưng từ những năm 1990, diện tích rừng ngập mặn đã suy giảm nhanh chóng và hiện giờ chỉ còn gần 16 hec-ta. Từ đó, Chi cục Lâm nghiệp kết luận cần thiết phải đưa rừng ngập mặn ở Lăng Cô vào phân mục rừng để có các biện pháp quản lý và bảo vệ thích hợp. Đây cũng là cơ sở cho việc giao rừng cho cộng đồng địa phương.

Với tư cách là một hộ dân của thôn Loan Lý, một trong hai thôn được giao rừng, anh Vĩnh giờ đây đã được phép trồng rừng ngập mặn và thu về những lợi ích từ rừng. Hiện anh đang nuôi cá hồng (Lutianus erythropterus) và cua xanh (Scylla serrata) trong khu vực rừng của mình. Đến nay, anh Vĩnh đã đầu tư gần 600 triệu đồng vào mô hình này, bao gồm tiền mua giống, xây đê bao trống lụt và thuê người trông nom. Anh tin tưởng sẽ có thể hòa vốn chỉ trong vòng hai năm. Một cân cá hồng anh bán tại nhà hàng với giá 300,000 VND và một cân cua xanh có thể bán với giá 150,000 VND.

Anh Vĩnh thực sự rất tâm huyết với mô hình nuôi trồng thủy sản tích hợp trong rừng ngập mặn. Anh sẵn sàng tự bỏ tiền tìm hiểu và mua lại các giống thủy sản quý hiếm trước đây để nuôi trồng trong rừng ngập mặn. Anh tâm sự với chúng tôi rằng, trước đây anh làm nghề buôn bán gỗ và giờ đây muốn làm một điều gì đó có ích để bù đắp lại khoảng thời gian đó. Anh nghĩ là những ngư dân khác trong vùng, kể cả những người nuôi hàu cũng hiểu rõ giá trị của rừng ngập mặn nhưng họ không có sinh kế thay thế nào khác nên buộc phải phá rừng.

Nếu như mô hình của anh thành công, chắc chắn những người khác cũng sẽ chú ý và bắt đầu làm theo. Một bài học có thể rút ra từ câu chuyện của anh Vĩnh là chỉ khi người dân nhìn thấy được lợi ích thiết thực của họ từ việc bảo tồn thiên nhiên thì họ mới sẵn sàng bảo vệ môi trường. Nói một cách khác, trồng rừng, bảo vệ và chia sẻ lợi ích là những việc không thể thiếu trong bảo tồn rừng ngập mặn, như ông Hồ Trọng Cầu, Phó Chủ tịch UBND Huyện Phú Lộc đã chia sẻ trong bài phát biểu khai mạc Ngày hành động Cộng đồng – trồng rừng ngập mặn tại Lăng Cô vào ngày 26 tháng 3 năm 2013.

Lê Thị Thanh Thủy, Trợ lý chương trình IUCN Việt Nam và Dương Ngọc Phước, Cán bộ dự án, CCRD
 

 

 


View of logging road in the Cameroon Forests