Diễn đàn Vùng Duyên hải lần thứ nhất năm 2012: một vài điểm nhấn

20 March 2012 | Article
0 CommentsWrite a comment

Trong tháng Hai vừa qua, tôi là một thành viên của đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Diễn đàn Vùng duyên hải lần thứ nhất tại Chanthaburi, Thái Lan từ ngày 29 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3 năm 2012. Diễn đàn này nằm trong khuôn khổ dự án Cải thiện Sức chống chịu Vùng ven biển (BCR) do Liên minh Châu âu (EU) tài trợ. Trong ba ngày Diễn đàn, tôi thực sự ấn tượng với sự tham gia tích cực của các đại biểu, hầu hết các bài thuyết trình có chất lượng tốt cũng như lượng thông tin, kiến thức lớn mà ba quốc gia của dự án BCR – Thailan, Campuchia và Việt Nam đã thảo luận và học hỏi lẫn nhau. Nhân đây, tôi muốn chia sẻ một vài thông tin đã cuốn hút tôi trong thời gian Diễn đàn.

Đầu tiên, với các kết quả nghiên cứu ngày càng nhiều, chúng ta đã biết nhiều hơn các địa điểm nơi quá trình xói lở bở biển đang diễn ra chậm lại và có thể đảo ngược (và những nơi không thể can thiệp). Một hệ thống video giám sát tích hợp công nghệ GPS do Đại học James Cook phát triển đã được sử dụng để phân loại các điều kiện vùng bờ biển và chỉ ra những nhân tố dẫn đến xói lở 300 km đường bờ biển của tỉnh Kiên Giang. Tại tỉnh Sóc Trăng, GIZ đã sử dụng một mô hình máy tính hiện đại để đưa ra một thiết kế tối ưu cho hệ thống đê chắn sóng bằng tre nhằm giữ lại phù sa và hình thành nên lớp bùn mới để trồng các cây ngập mặn. Còn ở tỉnh Samut Sakhon, Thái Lan, một cộng đồng dân cư địa phương cũng có ý tưởng tương tự về xây dựng đê chắn sóng thông qua phương pháp thử và kiểm chứng từng bước. Ở Kiên Giang, nghiên cứu của AusAid cho thấy một khi phù sa được giữ lại, quá trình tái sinh tự nhiên sẽ giúp rừng ngập mặn đa dạng hơn và có tỷ lệ cây chết thấp hơn.

Thứ hai, tuy tính khả thi của các giải pháp như trình bày ở trên tại vùng xói lở nghiêm trọng đã được chứng minh, nhưng việc đưa được chúng vào thực tiễn sẽ gặp các vấn đề thường nảy sinh từ bên có cầu, nhất là tại Việt Nam, nơi do các lý do khác nhau, lựa chọn ưa thích thường là các giải pháp kỹ thuật “công trình”. Dù lãnh đạo địa phương có thể hiểu rõ về lợi ích của kè chắn sóng bằng tre hoặc cừ tràm, nhưng có những lý do chính trị ngăn cản họ áp dụng phương pháp này. Ví dụ, tại một tỉnh, các vùng rừng ngập mặn do nhà nước quản lý chỉ được phép trồng một loài cây ngập mặn (đước) do đó là chỉ thị từ cấp trung ương, cho dù họ hiểu rõ là cần phải trồng đa loài để thích ứng với các điều kiện luôn biến động của vùng ven biển.

Thứ ba, ở Thái Lan tương đối khác là cộng đồng sẵn sàng thử nghiệm và chấp nhận rủi ro. Trong chuyến đi thực địa, chúng tôi gặp một cộng đồng ngư dân ở Vịnh Thái Lan đã có sáng kiến cấm các thuyền đánh cá thương mại sử dụng vùng nước truyền thống của họ và sáng kiến này được chính quyền ủng hộ. Trong một chuyến đi khác, các đại biểu được nhìn tận mắt những cây cột làm bằng xi măng do người dân địa phương xây dựng để ngăn chặn các tàu đánh cá bằng lưới rê. Và tại tỉnh Samut Sakhon, dân làng đã làm hệ thống kè chắn sóng không cần đến bất kỳ sự hỗ trợ quốc tế nào. Tuy nhiên, những sáng kiến địa phương này lại có vẻ như rất hiếm tại Việt Nam vì cộng đồng có vẻ thụ động hơn. Điều này cũng phản ánh phần nào hệ thống quản lý tại Việt Nam theo kiểu từ trên xuống và ít lắng nghe phản hồi từ dưới lên. Việc này cũng có nghĩa là những giải pháp thực tế cho các vấn đề chung (như xói lở bờ biển hay khai thác thủy sản quá mức) sẽ xuất hiện ở Thái Lan nhiều hơn ở Việt Nam.

Cuối cùng, câu hỏi hay nhất trong diễn đàn do PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI), cơ quan đối tác của dự án BCR hỏi: sau tất cả những nghiên cứu và thông tin mới này, bạn có thể đưa ra lời khuyên gì cho các nhà hoạch định chính sách? Hay nói cách khác: nếu bạn có 10 phút để nói chuyện với Thủ tướng, bạn sẽ nói gì? Câu trả lời của tôi là “Đừng làm gì có hại”. Kinh nghiệm tại Việt Nam và Thái Lan (ít thấy ở Campuchia do mức độ phát triển thấp hơn) cho thấy khi bạn bắt đầu hướng những hệ sinh thái có mức độ đa dạng và phức tạp cao theo ý mình, rất nhiều hậu quả tiêu cực có thể diễn ra. Ví dụ: phần bờ biển của Kiên Giang bắt đầu xói lở nhanh chóng từ đầu những năm 2000 sau khi hoàn thành kênh tiêu nước từ An Giang phục vụ chính sách thâm canh của nhà nước. Các chính sách của chính phủ ở Việt Nam và Thái Lan, dù là kênh mương chuyển nước, xây thêm đê kè hay chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngập nước đều vô tình làm người dân bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi biến đổi khí hậu. Mặc dù có thể thực hiện rất nhiều hoạt động ở cấp địa phương để giảm thiểu mức độ nhạy cảm với biến đổi khí hậu, nhưng những hậu quả của các chính sách nêu trên sẽ đặt người dân vào tình thế ngày càng nguy hiểm hơn.

Báo chí vẫn thường hay đổ lỗi cho biến đổi khí hậu là nguyên nhân dẫn đến lụt lội, hạn hán và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác. Trận lụt năm 2011 tại Đồng bằng sông Cửu Long một phần do biến đổi khí hậu gây ra nhưng thực tế lượng nước đổ vào sông ít khi vượt mức trung bình. Điều khiến hiện tượng này thay đổi là do xây dựng đê cao hơn (do nhu cầu canh tác vụ ba hoặc thậm chí vụ bốn một năm) làm cho nền sông dâng cao và dồn nước lũ vào khu vực đông dân cư. Ở Kiên Giang, chính quyền cũng đổ lỗi cho biến đổi khí hậu là nguyên nhân dẫn đến xói lở bờ biển. Tuy nhiên, video giám sát cho thấy nguyên nhân hàng đầu dẫn đến việc xói lở là do kênh mương, phá rừng ngập mặn và vứt túi ni lông bừa bãi làm chết cây non. Một nhà báo tại thành phố Hồ Chí Minh đã phát biểu các chính trị gia hay đổ lỗi lũ là do biến đổi khí hậu chứ không phải do mở rộng đô thị đến khu vực đất ngập nước và những vùng trũng khác. Các chính phủ vẫn thường đổ lỗi cho biến đổi khí hậu là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề về môi trường để tránh trách nhiệm và (thậm chí tệ hơn là) khuyến khích các quyết sách phản thích ứng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng khiến cho tình trạng càng xấu đi. Ví dụ như đề án gần đây nhất tại Việt Nam đề xuất xây dựng một con đê dài 23 km, trị giá 2,4 tỷ đô-la Mỹ để “bảo vệ” Thành phố Hồ Chí Minh khỏi lũ lụt.

Diễn đàn Vùng duyên hải lần thứ nhất đã thành công trong việc bước đầu giải quyết những vấn đề về chính trị nhạy cảm này. Diễn đàn lần thứ hai dự kiến sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào năm 2013.
 

Ông Jake Brunner
Hiện công tác tại Hà Nội, Jake Brunner là Điều phối viên chương trình IUCN tại Việt Nam, Campuchia và Myanmar. Từ năm 2000 đến năm 2008, trước khi làm cho IUCN, Jake là Giám đốc Chương trình Indo-Bruma của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (CI). Từ năm 1992 đến năm 2000, Jake làm việc tại Viện Tài nguyên Thế giới, một trung tâm nghiên cứu chính sách môi trường.

 


Comments

0 Comments
Write a comment

600 CHARACTERS LEFT

captcha