Phục hồi rừng ngập mặn tại Việt Nam: Kế hoạch quốc gia so với thực tế tại địa phương

09 April 2012 | Article

Chính phủ Việt Nam thường đưa ra các kế hoạch phát triển quốc gia theo cách tiếp cận từ trên xuống như Chương trình 661, trồng mới năm triệu hecta rừng (đã kết thúc vào năm 2010 với chỉ 2.5 triệu hecta được trồng mới trong vòng 12 năm). Xu hướng xây dựng các chương trình quốc gia của Chính phủ xuất phát từ lịch sử nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó Nhà nước đề ra một khối lượng lớn các mục tiêu với sự tham gia của các bộ ngành. Công cuộc đổi mới vào giữa những năm 1980 đã chính thức đưa Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường nhưng tư tưởng quản lý tập trung vẫn còn tồn tại.

Có rất nhiều điều cần bàn tới về các kế hoạch và tiêu chuẩn quốc gia, ví dụ như trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng, cần có sự phối hợp và đầu tư trên khắp cả nước. Cuối cùng, một mét khối công trình sẽ có cùng một khối lượng xây dựng và cùng một chi phí ở miền Bắc cũng như ở miền Nam. Tuy nhiên, một hội thảo diễn ra vào ngày 16 tháng 3 năm 2012 do GIZ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thông (NN & PTNT) tổ chức về phục hồi rừng ngập mặn tại Việt Nam mà tôi tham gia đã tập trung thảo luận về những hạn chế của kế hoạch quốc gia trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.

Có ba vấn đề nổi lên. Thứ nhất, sau một thập niên của các quyết định, kế hoạch tổng thể, hướng dẫn, thông tư và quy định, rừng ngập mặn vẫn đang bị mất dần. Một nghiên cứu dựa trên ảnh vệ tinh có độ phân giải cao do IUCN và Viện công nghệ vũ trụ thực hiện tại Huyện Ngọc Hiền, Cà Mau (bao gồm vườn quốc gia Mũi Cà Mau) cho thấy diện tích rừng ngập mặn đã giảm 30% từ năm 2004 đến 2009. Một nghiên cứu khác tại tỉnh Kiên Giang do GIZ và đại học Queensland tiến hành cũng cho thấy một xu hướng tương tự. Rõ ràng, cách tiếp cận hiện tại không thể giúp phục hồi rừng ngập mặn ở hai tỉnh này được.

Thứ hai, Việt Nam có một đường bờ biển dài, đa dạng và liên tục biến đổi và chi phí phục hồi rừng ngập mặn tại các địa điểm khác nhau là khác nhau. Một nghiên cứu tại hội thảo này cho thấy định mức chi phí cho trồng rừng ngập mặn dao động từ $700/ hecta (ở đất bùn, đất dễ canh tác) đến US$4.000/ hecta (trên đất cát, khó canh tác hoặc nơi bị xói lở bờ biển cần phải xây dựng đê chắn sóng trước khi trồng rừng ngập mặn). Trong khuôn khổ chương trình 661, định mức chi cho trồng rừng và bảo vệ sau trồng rừng theo thứ tự chỉ là US$500/hecta và US$5/hecta/ một năm, thấp hơn rất nhiều so với chi phí thực tế. Ngược lại, ở Cần Giờ, các hộ gia đình được trả US$35/hecta/ một năm để bảo vệ rừng ngập mặn.
Vì thế, cần có các giải pháp cụ thể và phù hợp cho từng địa phương. Tuy nhiên, đại diện Bộ NN & PTNT cho rằng, việc xây dựng tài liệu hướng dẫn với các điều kiện khác nhau như vậy là không khả thi,và câu trả lời là “chúng ta cần đưa ra một hướng dẫn chi tiết hơn”. Việc này khiến chúng ta nhớ lại những phản hồi của Chính phủ trước việc sản lượng gạo giảm trước thời đổi mới là phải đưa ra nhiều mục tiêu hơn và cần có nhiều thanh tra, giám sát hơn.

Vấn đề thứ ba được một cán bộ chính quyền tỉnh Thanh Hóa đưa ra là việc xây dựng bao nhiêu kế hoạch tổng thể và hướng dẫn không phải là vấn đề bởi chúng không giải quyết được những xung đột về lợi ích vốn khuyến khích các chính quyền địa phương ưu tiên nuôi tôm (hoặc các hình thức sử dụng vì mục đích thương mại khác) thay vì ưu tiên bảo tồn rừng ngập mặn. Nói cách khác, các động lực dẫn đến việc thay đổi mục đích sử dụng đất ở cấp địa phương hoàn toàn đối ngược với chính sách của Bộ NN&PTNT và một khi những lợi ích này vẫn nằm ngoài lề trong quá trình xây dựng chính sách (xét về thách thức chính trị chứ không phải về kỹ thuật), nhiều chính sách trên giấy hơn sẽ chẳng có ý nghĩa gì.

Điều đáng quan tâm hơn là tìm ra cách tốt nhất để phục hồi rừng ngập mặn ở Việt Nam. GIZ đã xuất bản một cuốn sổ tay, trong đó đưa ra các hướng dẫn chi tiết cho các địa phương nơi dự án của họ hoạt động. Và nhờ đó, một chiến lược khác được mở ra là: thứ nhất, cần phải nâng cao nhận thức và đạt được sự đồng thuận về các mục tiêu chung trong phục hồi tính đa dạng và khả năng chống chịu của rừng ngập mặn ở mọi cấp; thứ hai là khuyến khích việc thử nghiệm và chấp nhận rủi ro ở cấp địa phương trong việc thiết kế vườn ươm, chọn giống, tạo điều kiện cho người dân địa phương tham gia và chia sẻ lợi ích; thứ ba, giám sát việc phục hồi rừng ngập mặn để đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và học tập kinh nghiệm; thứ tư, áp dụng và thực hiện nghiêm túc các quy định luật pháp về việc chặt phá và chuyển đổi rừng ngập mặn trái phép.

Ông Jake Brunner - Điều phối viên Chương trình Mekong (Vietnam, Cambodia và Myanmar)
 

 


Loggerhead turtle