Hội thảo Bảo vệ Sự sống các Dòng sông

17 November 2009 | News story
0 CommentsWrite a comment

Trung tâm Phát triển và Đa dạng Sinh học (CBD) thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới, Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN), và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế tại Việt Nam (IUCN VN) với sự hỗ trợ tài chính của Dự án Đối thoại Tài nguyên nước khu vực sông Mêkông (MRWD) do Bộ Ngoại giao Phần lan tài trợ đã phối hợp tổ chức hội thảo Bảo vệ Sự sống các Dòng sông. Hội thảo được tổ chức nhằm giải quyết những vấn đề về quản trị nước và biến đổi khí hậu tại Việt Nam, Thailand, Cam-pu-chia, và Lào. IUCN VN phối hợp cùng CBD đã và đang phối hợp lập kế hoạch bảo tồn tại tỉnh Kiên Giang. Được thành lập năm 2005, VRN có 145 thành viên với mục tiêu hỗ trợ sự sống của các dòng sông đang gặp nguy hiểm tại Việt Nam.
 



Hội thảo được tổ chức ngày 31 tháng 10 năm 2009 tại vườn quốc gia Cát Tiên tại tỉnh Đồng Nai, với sự tham gia của 60 đại biểu từ các cơ quan địa phương, các trường đại học, các tổ chức Phi chính phủ, các trung tâm nghiên cứu, và báo chí trong nước. Mục đích của hội thảo là chia sẻ thông tin về những vấn đề lớn liên quan đến quản lý tài nguyên nước tại khu vực phía Nam Việt Nam và gắn kết các viện nghiên cứu, các nhà hoạt động với các cán bộ nhà nước cùng nhau tham gia giải quyết những vấn đề này. Đối với IUCN, đây là một cơ hội để gặp gỡ các bên liên quan và tìm kiếm khả năng tăng cường hỗ trợ sự tham gia của xã hội dân sự vào các vấn đề liên quan đến nước.


Có rất nhiều vấn đề đã được trình bày qua 18 bài tham luận tại hội thảo. Đầu tiên là, về hiện trạng chất lượng và dung lượng nước đang ngày càng trở nên xấu hơn và ít đi. Bài tham luận về các vấn đề liên quan đến lưu vực sông Vàm Cỏ đã cho thấy việc đưa vào hoạt động các nhà máy sản xuất mía đường dọc theo bờ sông gây ra những thảm họa về môi trường nước như thế nào. Hầu hết chất thải được xả ra sông vào ban đêm khi các hệ thống giám sát môi trường của chính quyền không hoạt động. Có thể tiên lượng rằng, nếu không được giải quyết kịp thời thì sông Vàm Cỏ cũng sẽ sớm trở thành một dòng sông chết như sông Thị Vải, nơi bị ô nhiễm nặng bởi Công ty Vedan (đưa vào vận hành năm 1994) và Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ (đưa vào vận hành năm 2005).

Thứ hai là, hiện có các nguồn dữ liệu tốt về hiện trạng cũng như về chiều hướng thay đổi chất lượng nước của các dòng sông, các nguồn dữ liệu này có thể được tổng hợp lại để tạo ra một bức tranh tổng thể về sức khoẻ của các hệ thống sông trong khu vực. Rất nhiều Trường đại học đã xây dựng các phương pháp kiểm tra, đánh giá nhanh chất lượng nước với chi phí rẻ, các phương pháp này có thể được sử dụng để góp phần đưa ra một bức tranh toàn diện về chất lượng nước sông trong khu vực phía Nam.

Thứ ba là, rất nhiều vấn đề bất cập về quản lý nguồn nước đã được kết nối với nhau. Ví dụ, bài tham luận của Sở Tài nguyên Môi trường Tp. Cần Thơ đã cho thấy sự suy giảm nguồn nước ngầm và tăng sự xâm nhập mặn. Các chiều hướng thay đổi này có thể do mật độ dày đặc của mạng lưới kênh rạch ở Đồng bằng sông Cửu Long, đã được phát triển để thoát nước trong mùa lũ càng nhanh càng tốt. Điều này là ý tưởng cho việc tăng sản lượng lúa bằng cách đẩy nhanh sự tiêu thoát nước. Việc này làm cho nguồn nước ngầm giảm đi và các dòng chảy trong mùa khô bị xâm nhập mặn. Sự suy giảm chất lượng nước đô thị, do đó, có thể do các chính sách ưu tiên tăng sản lượng lúa hơn so với các ưu tiên khác của chính quyền. Bằng chứng hỗ trợ cho giả thuyết này cũng đã được đề cập trong bài tham luận về tác động của biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long của Đại học Cần Thơ. Bài tham luận này trình bày một biểu đồ cho thấy các đỉnh lũ thấp nhất đã thay đổi như thế nào trong vòng 30 – 40 năm qua tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ 4 là trách nhiệm chưa được thể hiện đầy đủ của các cơ quan chính quyền trong việc quản lý môi trường. Ví dụ, bài tham luận của Chi cục Bảo vệ Môi trường Đồng Nai, cho thấy chất lượng nước trên sông Đồng Nai là xấu nhưng không đưa ra được các kiến nghị để giải quyết triệt để vấn đề này. Các nhà quản lý Vườn quốc gia Tràm Chim, Cát Tiên, Bi Dup Núi Bà đã đưa ra các ví dụ về việc ra các quyết định liên quan đến sử dụng đất của các cấp chính quyền, có ảnh hưởng trực tiếp đến tính toàn vẹn của Vườn mà không hề có sự xem xét, tham gia quyết định từ các đơn vị quản lý Vườn.
Vấn đề cuối cùng được thảo luận từ hội thảo là sự không đồng nhất trong các quyết định quản lý tài nguyên nước. Năm 2001, Bộ NN & PTNT công bố Quyết định 38/2001/QD/BN-TCCB thành lập Ủy ban Quản lý và Kế hoạch cho lưu vực sông Đồng Nai (đồng thời lập ra các ban tương tự đối với sông Hồng-Thái Bình, Cửu Long, Srepok, Cầu, Đáy, Cả, và sông Vu Gia – Thu Bồn). Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đưa ra Quyết dịnh 157/2008/QD-TTG thành lập Ủy ban Bảo vệ Môi trường do Bộ TN & MT chủ trì chịu trách nhiệm về những vấn đề liên quan đến lưu vực sông (Một ủy ban tương tự cũng được thành lập đối với sông Cầu).
Tháng 8 năm 2008, trách nhiệm quản lý lưu vực sông được chuyển từ Bộ NN và PTNT sang Bộ TN và MT năm 2003. Tuy nhiên cả hai Bộ đều không có đủ quyền hạn để đảm bảo các quyết định về quản lý nguồn nước được xem xét và phối hợp một cách hợp lý. Báo cáo thẩm tra ngành nước Việt Nam 2008 đã mô tả về sự phát triển ồ ạt các đập thuỷ điện trên sông Đồng Nai mà không có sự hiểu biết, quan tâm về các tác động chồng chất lên các đối tượng dùng nước khác và đã đề xuất thành lập một tổ chức quản lý lưu vực sông (RBO). (Điện lực Việt Nam, (EVN) là cơ quan thực hiện hầu hết các dự án thuỷ điện, trực thuộc Bộ Công Thương, hoạt động hoàn toàn độc lập với Bộ NN & PTNT, Bộ TN & MT, và chính quyền các tỉnh). Năm 2008, Quyết định 120/2008/ND-CP của Thủ tuớng Chính phủ về thành lập các tổ chức quản lý mới cho các lưu vực sông tại Việt Nam nhưng cho đến nay chưa tổ chức nào được thành lập.
 

 


Comments

0 Comments
Write a comment

600 CHARACTERS LEFT

captcha