Hiện trạng phân bổ đa dạng sinh học các loài thủy sinh nước ngọt tại Indo-Burma

13 September 2012 | Article
0 CommentsWrite a comment

Hiến chương của Liên hiệp quốc về Thiên nhiên (1982) chỉ ra rằng “mọi dạng sống đều là độc nhất, cần được thừa nhận không cần biết nó có giá trị cho con người hay không, và khi nhìn nhận các sinh vật khác như vậy, con người cần có một quy tắc đạo đức cho các hành động của mình”. Hiến chương cũng chỉ ra rằng “…con người cần phải tích lũy kiến thức để duy trì và cải thiện năng lực sử dụng tài nguyên thiên nhiên của mình nhằm đảm bảo việc duy trì các loài và các hệ sinh thái vì lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai.” Phần lớn mọi người sẽ nhận ra rằng, hiện tại, khi xây dựng các quy hoạch, chúng ta rất hiếm khi tôn trọng thiên nhiên, và chúng ta thiếu kiến thức về đa dạng sinh học để tư vấn cho quá trình ra quyết định. Đây cũng là trường hợp của khu vực Indo-Burma, một điểm nóng về đa dạng sinh học của toàn cầu và được biết đến là nơi có mức độ đa dạng cực kỳ cao của các loài thủy sinh nội địa.

Hiểu biết về đa dạng loài sinh vật tại các thủy vực nội địa của khu vực Indo- Burma rất hạn chế và hầu như chưa được nghiên cứu thỏa đáng. Việc phát triển các công trình thủy lợi quy mô lớn đang bùng phát khắp nơi trong khu vực cũng gây ra những tác động trước mắt và lâu dài tới các loài thủy sinh nước ngọt. Vì thế, một nhu cầu cấp thiết là phải thu thập, so sánh, chia sẻ những kiến thức hiện có về các loài thủy sinh nước ngọt, mức độ nhạy cảm của các hệ sinh thái, nhu cầu sinh cảnh của các loài để phục vụ cho quá trình ra quyết định. Nếu không có những thông tin này, việc phát triển sẽ không thể diễn ra một cách bền vững và tác động lên các loài nước ngọt sẽ trở nên nghiêm trọng hơn.

Báo cáo này mong muốn giải quyết các hạn chế về kiến thức, trình bày những thông tin cập nhật nhất về phân bố và nguy cơ tuyệt chủng của các loài thủy sinh tại tất cả các hệ sinh thái nước ngọt trong điểm nóng Indo-Burma và đối với các loài có đủ thông tin, đưa ra các nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm loài. Báo cáo này cũng đưa ra những đánh giá khái quát nhất về đa dạng sinh học nước ngọt ở cấp độ loài tại khu vực này. Đối với các nhà quản lý, những thông tin này sẽ hỗ trợ việc thiết kế và thực hiện các hành động mục tiêu để hạn chế và giảm thiểu các tác động tiêu cực đến các loài. Xét từ góc độ chính sách, các thông tin được trình bày ở đây là nền tảng cơ bản để đáp ứng các cam kết của quốc gia trong Công ước Đa dạng Sinh học (CBD); Công ước Ramsar; và Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG). Thông tin về thực trạng loài đặc biệt quan trọng để thực hiện Mục tiêu 11 và 12 của CBD: “Đến năm 2020, ít nhất 17% diện tích nước trên mặt và nước nội địa, …đặc biệt là những khu vực có tầm quan trọng về đa dạng sinh học và dịch vụ sinh thái được bảo tồn…” và “…đến năm 2020, ngăn chặn được sự tuyệt chủng của những loài động vật bị đe dọa và tình trạng bảo tồn, đặc biệt là của các loài bị suy giảm nghiêm trọng nhất được cải thiện và duy trì”.

Đa dạng sinh học tại các thủy vực nội địa Indo-Burma không chỉ rất cao mà có giá trị quan trọng đối với sinh kế và nền kinh tế địa phương. Đây là phần Châu Á đang phát triển ở quy mô lớn chưa từng thấy, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng và thủy lợi. Rất nhiều người cho rằng sự phát triển như vậy là cần thiết để tạo ra doanh thu và cải thiện sinh kế của châu lục đông dân nhất thế giới này. Tuy nhiên, những hoạt động phát triển này không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách bền vững hoặc đi đôi với bảo tồn loài tại các thủy vực nội địa vì rất hiếm khi có những nghiên cứu đầy đủ về các tác động trước khi đưa ra các kế hoạch phát triển kinh tế.

Với mục tiêu đóng góp vào quá trình cung cấp thông tin về các loài nước ngọt của khu vực, Chương trình Loài Toàn cầu của IUCN đã phối hợp với các đối tác để thực hiện một đánh giá về thực trạng (theo Danh lục Đỏ các loài có nguy cơ tuyệt chủng) và sự phân bố của các loài cá, nhuyễn thể, chuồn chuồn, cua và một số họ thực vật thủy sinh của khu vực Indo-Burma. Tổng cộng 2.515 loài đã được đánh giá và tư liệu hóa. Những thông tin bổ sung sẵn có về 468 loài phụ thuộc vào nước như lưỡng cư, chim và thú cũng được sử dụng để đưa ra một bức tranh toàn cảnh về hiện trạng và phân bố của các loài sinh vật nước ngọt trong vùng. Với các thông tin về loài được biên soạn cho từng tiểu lưu vực của 1.082 sông và hồ tại khu vực, báo cáo này đã đưa ra những kiến thức chuyên sâu cơ bản, làm cơ sở thực hiện các hoạt động phát triển ở quy mô phù hợp cho quản lý bảo tồn. Bộ cơ sở dữ liệu đầy đủ, bao gồm tài liệu về phân bố của các loài sẽ được đăng trên website Danh lục đỏ của IUCN (www.iucnredlist.org).

Mười ba phần trăm số các loài nước ngọt được đánh giá trong tài liệu này là các loài đang bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu. Các nhóm loài khác trong khu vực cũng có mức độ đe dọa tương tự (12% số loài chim nước, và 12% số loài lưỡng cư đang bị đe dọa) và dự báo tình trạng này sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng nếu nếu các nhu cầu sinh thái của các loài nước ngọt không được cân nhắc trong các kế hoạch phát triển kinh tế trong tương lai, nhất là phát triển năng lượng và thủy lợi. Những nguy cơ chính được chỉ ra bao gồm Ô nhiễm (đặc biệt do các hoạt động sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp), Sử dụng Tài nguyên Sinh học (khai thác trực tiếp và/hoặc mất sinh cảnh do chặt phá rừng), và Biến đổi các Hệ thống Tự nhiên (xây dựng đập và những thay đổi khác như nạo vét sông để phục vụ giao thông thủy). Một số lượng lớn các loài bị đe dọa được ghi nhận dọc dòng chính sông Mê-kông và ở phần trung tâm và phía nam sông Chao Phraya. Sự phân bố này thể hiện mức độ ghi nhận thông tin về sự phong phú loài tại các phần của khu vực đã được nghiên cứu đầy đủ nhất – các trung tâm loài bị đe dọa khác có thể sẽ được phát hiện khi có thông tin đầy đủ hơn.
Các trung tâm chính có độ phong phú loài cao bao gồm các vùng đất thấp ở giữa trung và hạ lưu của sông Chao Phraya, dòng chính của sông Mê- kông giữa biên giới CHDCND Lào và ngã ba sông Mê-kông và sông Tonlé Sap ở Cam-pu-chia.

Có rất nhiều lưu vực sông và hồ được xác định vào mạng lưới các khu vực có tiềm năng trở thành Vùng Đa dạng Sinh học Trọng yếu (Key Biodiversity Areas - KBA), nơi có vai trò quan trọng nhất trong việc bảo tồn các loài đang bị đe dọa và các loài đặc hữu của vùng. Các tiểu lưu vực có số lượng loài nhiều nhất và đáp ứng nhiều tiêu chí KBA nhất nằm dọc dòng chính của sông Mê-kông (đặc biệt là ở vùng ranh giới giữa Campuchia, Thái Lan và Lào), phần trung tâm của hệ thống Song Hong, khu vực xung quanh Inle’ Lake và trung tâm của Mae Khlong nơi đổ ra Vịnh Thái Lan. Danh lục đỏ của IUCN là một trong những tiêu chuẩn toàn cầu đầy đủ và hữu ích nhất để hỗ trợ các chính sách và hành động bảo tồn. Chúng tôi hy vọng rằng, với việc đánh giá thực trạng loài trong Danh lục đỏ, báo cáo này sẽ đưa ra những thông tin và phân tích sâu sắc, nhằm khuyến khích các hành động bảo vệ sự đa dạng của sự sống trong các thủy vực nội địa khu vực Indo- Burma.

Thông điệp chính:

  • Các thủy vực nội địa của khu vực Indo-Burma được xác nhận là một trong những vùng có đa dạng sinh học cao nhất của thế giới. Ví dụ, không có nơi nào ở phương Đông có số lượng loài và chi Chuồn chuồn (Chuồn chuồn và Chuồn chuồn kim) đa dạng và phong phú như ở đây và nơi đây cũng là một trong những nơi có số lượng loài cá lớn nhất thế giới với hơn 1.780 loài.
  • Mức độ đe dọa tuyệt chủng của các loài nước ngọt ở khu vực Indo-Burma hiện tại (13%) cũng gần xấp xỉ ở những thủy vực ngọt khác của Châu Á như phía đông Himalya (7%), và Ghat Tây (16%). Tuy nhiên, vẫn còn thiếu thông tin của rất nhiều khu vực (ví dụ, như ở sông Hồng) dẫn đến 37% số loài được đánh giá được đưa vào nhóm Thiếu Dữ liệu (DD), nghĩa là chưa thể đánh giá nguy cơ bị tuyệt chủng của những loài này. Khi có dữ liệu đầy đủ hơn, chắc chắn việc đánh giá lại sẽ làm tăng tổng số loài bị đe dọa lên một cách đáng kể.
  • Phân tích về những nguy cơ trong tương lai chỉ ra rằng nếu những kế hoạch xây dựng các đập thủy điện được thực hiện, trong thập niên tới, tỷ lệ cá bị đe dọa bởi các đập sẽ tăng từ 19% đến 28%, và tỷ lệ loài nhuyễn thể bị ảnh hưởng bởi đập sẽ tăng từ 24% đến 39%.
  • Trong bối cảnh các kế hoạch xây dựng thủy điện quy mô lớn đang ngày càng phát triển, cả dòng chính của hạ nguồn sông Mê- kông và dòng nhánh đều cần được quan tâm đánh giá tác động, đặc biệt là khu vực hạ lưu của Lào và Thái Lan và phía bắc Campuchia sẽ là những khu vực có đa dạng sinh học cao nhất và cũng có số lượng loài bị đe dọa lớn nhất.
  • Tương tự, thông báo gần đây của chính phủ Thái về gói đầu tư vào cơ sở hạ tầng thủy lợi gần 12 tỷ US$ ở lưu vực Chao Phraya sau cơn lũ khủng khiếp năm 2011 càng khiên người ta lo ngại, đặc biệt là khi phần trung tâm và hạ lưu của sông Chao Phraya là hai trong số những vùng có đa dạng sinh học cao nhất và là một trong những điểm tập trung các loài có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất.
  • Ô nhiễm (chủ yếu do hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của cư dân gây ra) được xác định là mối đe dọa chính ảnh hưởng đến nhiều loài và cần được giải quyết thông qua việc đưa ra các tiêu chuẩn và quy định chặt chẽ hơn và có cơ chế giám sát và thực thi, áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền và thông qua cách tiếp cận Chi trả Dịch vụ Hệ sinh thái (PES).
  • Khai thác quá mức cũng là một mối đe dọa với một số loài và ở một số khu vực nhất định. Gần đây, việc đình chỉ 38 vùng khai thác thủy sản thương mại ở Biển Hồ (cũng như giấy phép khai thác ở các vùng khác tại Campuchia) trong vòng ít nhất 3 năm cho đến khi trữ lượng cá được đánh giá đầy đủ và các biện pháp quản lý hợp lý hơn được đưa ra là một dấu hiệu cho thấy chính phủ đã bắt đầu nhận thức và đã sẵn sàng nỗ lực giải quyết vấn đề này. Để đảm bảo sẽ không xảy ra việc các vùng đánh bắt thương mại bị đình chỉ được thay thế bằng các khu “mở” cho mọi đối tượng khai thác có thể tạo ra những thiệt hại còn lớn hơn dẫn đến “thảm họa chung”, cần có nhiều nỗ lực hơn để hỗ trợ việc phát triển cộng đồng quản lý nghề cá với những quy định và giới hạn được các bên đồng thuận.
  • Đánh giá Tác động Môi trường, Đánh giá Môi trường Chiến lược và Đánh giá Tác động Tổng hợp không nên chỉ coi là một quy trình đơn thuần mà các kết quả, khuyến nghị của những đánh giá này cần được quan tâm xem xét. Cần phải có một cơ chế giám sát sau khi các đánh giá được hoàn thành và đảm bảo thỏa mãn các quy định pháp lý để thực hiện các đánh giá này. Những đánh giá này nhất thiết phải tham khảo các số liệu về loài có trong Danh lục đỏ những loài có nguy cơ tiệt chủng của IUCN. Với trường hợp phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mê-kông, việc đánh giá phải xem xét những tác động xuyên biên giới một cách rõ ràng, cụ thể. Trong trường hợp xây dựng Quy hoạch Tổng thể về Quản lý Lũ của Thái Lan, việc đánh giá tác động không nên bị bỏ qua hoặc coi nhẹ vì những động cơ chính trị nhằm ngăn chặn khẩn cấp sự trở lại của những trận lũ như năm 2011.
  • Phần lớn các khu bảo tồn ở Khu vực Indo-Burma được thiết kế và xây dựng dựa trên nhu cầu (và các cơ hội) bảo tồn các sinh cảnh và loài trên cạn. Việc tất cả các sinh cảnh và loài thủy sinh được bảo vệ đến nay chủ yếu là do nó được lồng ghép ngẫu nhiên trong khu bảo tồn rừng chứ không phải là nhờ kết quả của một kế hoạch bảo tồn dành riêng cho việc bảo tồn các loài này. Hệ thống các khu bảo tồn của mỗi nước cần được xem xét lại nhằm ưu tiên bảo tồn các loài thủy sinh nước ngọt, những nhược điểm của hệ thống nên được chỉ ra và những ưu tiên cần được thiết lập để mở rộng các khu bảo tồn hoặc thành lập các khu bảo vệ mới để cải thiện việc bảo tồn các loài thủy sinh nước ngọt.
  • Thái Lan có số lượng Khu Ramsar được công nhận lớn nhất trong khu vực, nhưng phần lớn chúng chỉ là phần mở rộng, bổ sung cho hệ thống các Vườn Quốc gia hoặc khu vực cấm săn bắt hiện có và hiện tại những khu vực này không tạo thêm giá trị cho các hoạt động bảo tồn loài nước ngọt. Năm 2010 – 2011, IUCN đã hỗ trợ chính phủ Lào để hai thủy vực ngọt ở Xe Champone và Beung Kiat Ngong được công nhận là khu Ramsar đầu tiên của Lào và hỗ trợ chính phủ Việt Nam đề cử và công nhận Tràm Chim (khu vực quan trọng nhất còn lại của Đồng Tháp Mười ở ĐBSCL) là khu Ramsar. Quá trình tìm ra những khu vực có giá trị đa dạng sinh học quan trọng được thực hiện trong đánh giá này nên được xây dựng nhằm hỗ trợ tìm ra những khu Ramsar tiếp theo (hoặc những dạng khác của khu bảo tồn) trong khu vực Indo-Burma.
  • Việc giám sát các điều kiện môi trường của các thủy vực nội địa phải ưu tiên tập trung vào đa dạng loài chứ không chỉ đơn thuần ghi nhận các thay đổi về sinh khối và năng suất (như hầu hết các nghiên cứu về thủy sản). Đơn vị đo lường sự đa dạng các loài thủy sản là số lượng các loài, không phải là kilogram, đô-la hay khối lượng đánh bắt trên một lần thả lưới. Nếu không áp dụng cách tiếp cận dựa vào loài thì sẽ có rất nhiều loài sẽ biến mất, và thay vào đó là các thủy vực nghèo loài và nghề thủy sản sẽ có ít cơ hội phát triển bền vững.
  • Những nghiên cứu về lợi ích trực tiếp của người dân địa phương nên được dịch ra ngôn ngữ địa phương và phát hành miễn phí. Kết quả của rất nhiều nghiên cứu không bao giờ được công bố và vì thế không bao giờ được sử dụng để đóng góp cho công cuộc bảo tồn.
  • Cuối cùng, chúng ta không được phép quên Hiến chương của Liên hiệp quốc về Thiên nhiên rằng chúng ta cần tôn trọng tất cả mọi sự sống bất kể chúng có giá trị hữu hình cho con người hay không. Nói một cách khác, chúng ta vẫn cần nỗ lực bảo lệ những loài không có đóng góp cụ thể, hữu hình vào hệ sinh thái cũng như những loài nhỏ bé không mang giá trị thương mại cụ thể.

Chi tiết báo cáo, xin vui lòng tải tại ĐÂY


Comments

0 Comments
Write a comment

600 CHARACTERS LEFT

captcha